CHƯƠNG 1: CÁC TỬ ĐẠO Các Cuộc Bách Hại của La Mã Nguyên ý niệm “Kitô giáo sơ khai” cũng đủ tự nhiên phát sinh trong ta hình ảnh La Mã bách hại và việc tử đạo của Kitô hữu. Ðược nuôi dưỡng bởi truyền thống tiểu thuyết thế kỷ 19 (như Ben Hur, Quo Vadis, Fabiola…), nhiều người trong chúng ta lập tức quay về với những hình ảnh hùng vĩ của điện ảnh, và nghệ thuật tôn giáo bình dân dựa trên lịch sử sai lầm, nên có khuynh hướng nghĩ rằng thời kỳ này là thời kỳ đầy những hoàng đế man rợ (maniac), những cô gái thở vắn than dài (sighing maidens), những đám đông quần chúng vô tâm độc ác chỉ tay xuống đất phản đối, và bày sư tử đói thịt người. Những hình ảnh bình dân này đôi khi được thêm mắm thêm muối bằng cách vẽ các cô gái thở vắn than dài kia thành những người được các chàng bách quân đội trưởng ngoại đạo nhưng đáng yêu tôn thờ hứa hẹn nếu chịu dâng hương trước bàn thờ thần minh La Mã, các cô sẽ được cả thế gian. Lẽ dĩ nhiên các cô không chịu.
Trong cái bối cảnh một tình yêu không thành ấy, các Kitô hữu khác phải ẩn núp trong các hang toại đạo dưới đất, chỉ nhận được ra nhau bằng những dầu hiệu bí mật (trong phim ảnh, thường là hình con cá vẽ trên cát), và gọi nhau phần đông là “anh” là “chị”. Các Kitô hữu trong các phim này thường là những người tốt lành quá lẽ và nếu cần biết sự thực, thì đều không có gì thích thú như các kẻ hành tội họ. Những cảnh về Caligulas luôn làm người ta say mê; ai có thể cưỡng lại một chính khách từng biến con ngựa yêu thích của mình thành một thượng nghị sĩ? Thật rất khó có thể rũ bỏ cái mờ ảo của thứ chân lý nửa vời, của việc thông tin sai lạc, và hoàn toàn tưởng tượng ấy. Các du khách viếng thăm Rome vẫn còn được các hướng dẫn viên cho biết các Kitô hữu tiên khởi sống trong các hang toại đạo và các ngôi mộ trong hang toại đạo chứa thi hài các đấng tử đạo.
Ta cần phải cắt bỏ những khía cạnh thơ mộng và dã sử để thực sự hiểu các tử đạo tiên khởi. Dưới nhiều khía cạnh, họ biểu tượng như những gạch nối dẫn ta tới những kinh nghiệm của những người kiên cường nhất trong các Kitô hữu ngày nay. Hiểu các tử đạo tiên khởi là hiểu một trong những hình thức cổ xưa nhất và dai dẳng nhất trong việc làm chứng nhân tôn giáo. Một sự kiện căn bản cần phải hiểu về cuộc sống Kitô giáo trong Ðế quốc La Mã là: các Kitô hữu phải chịu đau khổ và chết vì đức tin của mình.
Ðó là điểm khởi hành của chúng ta. Khoảng 50 năm sau khi sự việc đã xẩy ra, sử gia La Mã Tacitus (a. 54-119) viết những giòng sau về hoàng đế Neron, người có mưu toan thiêu hủy thành La Mã vào tháng Bẩy năm 64: “Ðể dẹp tin đồn, Neron kết án và độc ác trừng phạt những người mang danh Kitô hữu, là những người bị khinh ghét vì các thực hành xấ xa của họ. Người sáng lập ra giáo phái này là Christus từng bị Tổng Trấn Pontius Pilate xử tử dưới triều Tiberius.
Có lúc thứ mê tín xấu xa này đã bị dẹp bỏ, nhưng chẳng bao lâu sau lại bừng sống lại không những chỉ ở Judea là nơi nó phát sinh mà còn ở cả La Mã nữa, là nơi bọn người xấu xa đáng giận này lui tới sinh sống và phồn thịnh. Trước hết, những ai tuyên tín đều bị bắt và rồi, theo lời của họ, số rất đông bị kết án, không hẳn vì tội cố ý phóng hỏa cho bằng vì đã thù ghét nhân loại. “Họ bị chế nhạo khi chết. Một số bị khâu vào da thú và bị chó làm cho sợ mà chết; số khác bị đóng đinh hoặc bị thiêu để khi mặt trời xuống làm thành dẫy đuốc chiếu sáng màn đêm.
Nero cung cấp chính vườn ngự uyển của mình cho những cuộc trình diễn này và biến chúng thành một đám xiệc. Ông ta trà trộn với đám dân thường, ăn mặc theo lối phu xe hoặc đứng trên xe ngựa kéo. Chính vì thế, những người chịu hình khổ, dù có tội và đáng bị trừng phạt, đã gây được lòng thương hại nơi quần chúng vì họ thấy các hình khổ này không hẳn vì ích lợi công cộng, mà chỉ do sự dã man của một người” (1). Ta thấy nhiều điểm đáng lưu ý trong đoạn văn nổi tiếng trên.
Trước nhất, trong khoảng 30 năm sau thời đức Giêsu, tại La Mã, đã có một cộng đoàn Kitô hữu lớn mạnh đủ để có thể bị nhà cầm quyền nhận dạng và tách riêng ra. Thứ hai, Tacitus, dù rất ghét hoàng đế, nhưng không thương yêu hay kính trọng gì các Kitô hữu. Ông ta bày tỏ cảm tình cá nhân gần 50 năm sau cuộc bách hại của Neron, nhưng thiện cảm của ông đối với các Kitô hữu không có bao nhiêu. Cuối cùng, và quan trọng hơn cả, Tacitus không cung cấp cho ta bất cứ giải thích nào về lý do tại sao các Kitô hữu đã bị tách riêng ra để bách hại.
Ông ta có nhắc đến “các thực hành xấu xa”, “lòng thù ghét nhân loại” và “họ đáng bị phạt”, nhưng không nhắc gì đến các tội danh đặc thù căn cứ vào đó hoàng đế đã hành động. Hai thế hệ sau khi La Mã bị thiêu hủy, tức vào khoảng năm 112, Pliny Trẻ viết cho hoàng đế Trajan về các Kitô hữu mà ông ta bách hại tại tỉnh Bithynia ở phương xa. Hoàng đế trả lời, tỏ ý khen ngợi, nhưng cho ông hay đừng đi lùng các Kitô hữu nữa, mà hãy trừng phạt những kẻ đã được trao nộp cho ông. Hoàng đế cũng cảnh giác ông nên dè dặt đối với những lời cáo buộc nặc danh không phản ảnh “tinh thần thời đại”.
Dĩ nhiên câu hỏi là tại sao các Kitô hữu bị trừng phạt. Trajan không giải thích trong thư phúc đáp Pliny. Người ta chỉ giả thiết các Kitô hữu cần bị trừng phạt. Một cách tổng quát, Kitô giáo bị coi như một đe dọa đối với công ích của quốc gia.
Ðạo hiếu thảo của La Mã (Roman pietas) là đức sáng qua đó các công dân tỏ bày tình yêu và lòng trọng kính đối với đất nước. Hiếu Thảo cũng là cái đức sáng người ta mong con cái được vun trồng trong liên hệ với mẹ cha. Lòng hiếu thảo đối với đất nước được biểu lộ ra bên ngoài qua các nghi lễ và tập tục nhằm tôn kính thần minh La Mã. Ðền thần minh nói lên các giá trị của nền văn hóa La Mã; tôn kính các giá trị này là cách đảm bảo nền hoà bình thần thánh, là nền hoà bình trên đó thịnh vượng và sức khỏe của toàn đế quốc được đặt nền.
Không tham dự vào biểu thức chung của lòng hiếu thảo ấy bị công dân La Mã coi như vừa phạm thánh vừa bất trung; tóm lại, đó là hành vi phản quốc. Lời kết án thường nhất cho rằng các Kitô hữu vô thần cần được nhìn dưới ánh sáng này. Thực thế, các Kitô hữu quả có bác khước sự hiện hữu của các thần minh La Mã. Nhìn từ cao điểm nền văn hóa La Mã, một nhóm như các Kitô hữu chẳng là gì khác hơn một giáo phái ngoại lai tối tăm và bí ẩn, bộc phát ở bên lề Ðế Quốc.
Với các tín điều kỳ quái (một ông thần từng bị xử tử vì tội gây loạn!) và việc gây sức mạnh trong số các nô lệ và những phần tử bất mãn của các giai cấp hạ đẳng, chẳng lạ gì Kitô giáo bị người ta coi như một hội kín phản xã hội và nguy hiểm. Các công dân La Mã “lương thiện” do đó nhìn Kitô giáo không khác gì nhiều người trong chúng ta ngày nay nhìn các giáo phái cổ quái hiện hành: họ là những tên nực cười và mơ hồ được nhận ra là nguy hiểm. Kitô giáo ngày nay là một thành phần cố định của nền văn hóa của chúng ta và đã hiện diện gần hai ngàn năm qua. Nên rất khó cho ta khi phải thẩm định các Kitô hữu đã bị những người La Mã ngoại đạo coi ra sao trong các thế kỷ thứ hai và thứ ba.
Vì các Kitô hữu tương đối rất ít về số lượng và, nói chung, không có đại diện trong các giai cấp có ảnh hưởng, nên họ dễ trở thành chiên thế tội. Văn sĩ Kitô giáo nổi tiếng là Tertullian (khoảng 120-222) ghi lại rằng sông Tiber có dâng nước ngập bờ hay sông Nile có ngưng chẩy hay các vì sao có đứng im và trái đất có rung động đi chăng nữa, thì tiếng kêu ngoài phố vẫn luôn luôn là “Hãy ném các Kitô hữu cho sư tử!” Tertullian không nói quá. Năm 177, tại tỉnh La Mã ở Phía Nam Gaul (nay là Pháp), dân chúng Kitô giáo tại Lyons, không hiểu vì nguyên do gì, rất có thể chỉ vì đa số họ gốc Á-Châu, bắt đầu cảm thấy bị áp lực phân biệt về xã hội và luật lệ. Họ bị cấm không được vào các nhà tắm công cộng.
Sau đó là chợ búa và sau cùng là những nơi được thần minh La Mã phù hộ. Chưa hết, cùng với những hành động cấm đoán ít nhiều chính thức ấy, họ còn bị nhiều nhóm côn đồ trong thành phố tấn công, lùng bắt đưa tới những nơi tụ họp công cộng để đòi bị lên án. Các nhà cầm quyền, sợ áp lực đám đông, nên đã thỏa mãn ý muốn của họ. Những ai không chịu từ bỏ Kitô giáo, thì bị hành hình trong ngục.
Những người sống sót kinh nghiệm lao tù được đưa tới các hí trường làm mồi cho thú dữ. Một bức thư từ Giáo Hội tại Lyons, sau này được lưu giữ trong Lịch Sử Giáo Hội của Eusebius (chết khoảng năm 340), kể lại những nhục hình khốn khổ của các tử đạo, trong số ấy nổi bật người con gái nô lệ anh hùng tên Blandina: “Sau cùng là người diễm phúc Blandina: như một bà mẹ cao thượng khích lệ con cái… bà mau mắn tham gia với họ, luôn hân hoan và ngợi ca trước cái chết của mình như thể được mời tham dự tiệc cưới chứ không phải trở thành nạn nhân cho bầy thú dữ. Sau khi bị đánh đập, bị thú vật hành hạ và thanh sắt nóng bỏng, bà bị hất tung vào một tấm lưới mặc tình cho con bò mộng tấn công. Sau khi bị con thú tung hất nhiều lần, bà không còn biết chuyện gì đang xẩy ra nữa, nhờ niềm hy vọng và việc chiếm hữu được mọi điều bà tin và nhờ tình yêu thân thiết của bà với đức Kitô” (2).