phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương chính. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn: Giới thiệu khái quát về những khái niệm có liên quan để làm rõ cơ sở lý luận của luận văn. Khái quát bình diện về vấn đề nghiên cứu trong góc nhìn văn hóa học với hệ thống gồm chủ thể, không gian và thời gian văn hóa của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận, mối quan hệ giữa yếu 15 tố môi trường và yếu tố biển trong văn hóa tộc người. Chƣơng 2: Biển trong văn hóa vật chất của ngƣời Chăm tỉnh Ninh Thuận: Trình bày các dấu ấn của biển trong đời sống vật chất của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận thông qua những dấu ấn về các hoạt động và các phương tiện mưu sinh gắn liền với biển, cách ăn, mặc và xây dựng nhà ở, làng xã.
Chƣơng 3: Biển trong văn hóa tinh thần của ngƣời Chăm tỉnh Ninh Thuận: Nghiên cứu yếu tố biển trong kho tàng văn học dân gian của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận, đặc biệt là thông qua truyện cổ dân gian, trường ca và thành ngữ, tục ngữ, ca dao và dân ca (ariya, dalikan, paoh tuai, patao adat…), gia huấn ca… của người Chăm Ninh Thuận. Bên cạnh đó, nghiên cứu về diễn xướng dân gian và tín ngưỡng, lễ hội để thấy những yếu tố biển nằm sâu trong tiềm thức của dân tộc Chăm tại Ninh Thuận. 16 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm Tộc ngƣời Trên bình diện khoa học, khái niệm “tộc người” vẫn chưa được thống nhất về cách hiểu và các tiêu chí đặc trưng.
Nổi bật trên thế giới có hai trường phái giữa các nhà nhân học Âu – Mỹ và các nhà dân tộc học Xô Viết với những khác biệt đáng kể trong cách định nghĩa về “tộc người”. Tuy nhiên, các thuật ngữ có liên quan đến khái niệm này hầu hết đều có nguồn gốc từ chữ “Ethnos” trong tiếng Hy Lạp cổ. Những nội hàm của từ “Ethnos” trong từ điển của tiếng Hy Lạp cổ bao gồm “dân tộc”, “đám đông”, “bộ lạc”, “bộ lạc ngoại bang”, “một nhóm người”, “bầy”,… Chung quy lại khi phân tích nguồn gốc của các từ này cho thấy dùng để chỉ một tổng thể người sống cùng nhau và giống nhau về tập quán, lối sống,… Trước Công nguyên, từ “Ethnos” dùng chỉ “bộ lạc” hay “dân tộc”, tuy nhiên đến khoảng giáp Công nguyên và sau Công nguyên thì từ này mới bao hàm nghĩa phân biệt giữa các bộ lạc Hy Lạp và các bộ lạc không phải Hy Lạp. Thời gian tiếp theo, từ này được sử dụng với đa dạng nghĩa nhưng cho đến những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX trở đi thì “Ethnos” mang ý nghĩa “tộc người” mới dần được xuất hiện trong nghiên cứu khoa học và được sử dụng rộng rãi sau đó.
Các học giả của trường phái Dân tộc học Xô Viết và nhân học Âu – Mỹ đã có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “tộc người”. Song, quan điểm của Viện sĩ Iu.Bromlei của trường phái dân tộc học Xô Viết được đánh giá rất cao và có sức ảnh hưởng lớn với nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tộc người được Bromlei định nghĩa như sau: “Tộc người được hiểu là một tập đoàn người ổn định có mối liên hệ chung về địa bàn cư trú, ngôn ngữ, kinh tế và đặc điểm sinh hoạt văn hóa. Mỗi tộc người đều có ý thức về nguồn gốc tộc người của mình” (Ngô Văn Lệ, 2004, tr.21) Tại Việt Nam, Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Văn Lệ và Nguyễn Văn Tiệp đưa ra khái niệm về “tộc người” trên cơ sở đồng tình với quan điểm của Bromlei như sau: “Dân tộc (tộc người) là một tập đoàn người ổn định dựa trên mối liên hệ chung về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt kinh tế, các đặc điểm sinh hoạt văn hóa, trên cơ sở những mối liên hệ đó, mỗi tộc người có một ý thức về thành phần tộc người và tên gọi 17 của mình” (Ngô Văn Lệ, 2004, tr.
Một số nhà khoa học khác như Lê Sĩ Giáo, Hoàng Lương, Lâm Bá Nam, Lê Ngọc Thắng trong Dân tộc học đại cương (1999) cho rằng “tộc người” là kết quả của quá trình lịch sử - tự nhiên mà không phải do ý nguyện của con người. Tuy nhiên, về cơ bản có thể xác định ba tiêu chí là ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tộc người. Những tiêu chí khác không vì thế mà mất đi, bởi vì tộc người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học nhân văn khác nhau như dân tộc học, văn hóa học và nhân học. Các tiêu chí khác có thể làm cho phong phú và đi sâu hơn vào việc nghiên cứu các tộc người.
Trong giới hạn của luận văn, việc định hướng này là cần thiết để đề tài của luận văn được tập trung, đồng thời mong đóng góp được một số giá trị. Văn hóa, Văn hóa tộc ngƣời Khái niệm “văn hóa” ở Việt Nam hiện nay được dùng với nhiều ý nghĩa khác nhau, tùy vào những ngữ cảnh cụ thể. Trong phạm vi luận văn này, chủ yếu dựa vào hai khái niệm của E.Tylor và Trần Ngọc Thêm để làm nền tảng lý luận. Trong công trình Văn hóa nguyên thủy (Primitive Culture, 1871), E.Tylor đưa ra quan điểm: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là thành viên của xã hội”.13) Văn hóa được Trần Ngọc Thêm định nghĩa trong Cơ sở văn hóa Việt Nam (1996): “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” (Trần Ngọc Thêm, 1996, tr.
Mỗi tộc người chịu tác động bởi những yếu tố vừa chủ quan vừa khách quan trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, tùy thuộc vào trình độ phát triển, tương tác xã hội và môi trường tự nhiên, họ sáng tạo nên những yếu tố văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần khác biệt và mang bản sắc riêng. Chính vì thế mà nỗi tộc người đều có vốn văn hóa của riêng mình. Văn hóa tộc người là nền tảng hình thành ý thức tự giác tộc người. Nói cách khác, văn hóa tộc người là tổng thể những yếu tố văn hóa vật chất và tinh thần mang tính đặc trưng, giúp phân biệt tộc người này và tộc người khác dựa trên một số yếu tố như ngôn ngữ, trang phục, các tín ngưỡng và nghi lễ, vốn văn hóa dân gian truyền miệng, tri thức dân gian về tự nhiên, xã hội, về 18 bản thân con người, về sản xuất, về ẩm thực, tâm lý dân tộc và những nội dung khác liên quan đến hoạt động lao động sản xuất, hoạt động xã hội của con người.
Vùng văn hóa và văn hóa vùng Khái niệm “vùng văn hóa” được Ngô Đức Thịnh đưa ra trong công trình Văn hóa vùng & Phân vùng văn hóa Việt Nam (2004): “Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể ph ân biệt với vùng văn hóa khác.” (Ngô Đức Thịnh, 2004, tr.64) Để xác định một vùng văn hóa, yếu tố quan trọng nhất cần xét đến là đặc trưng văn hóa được biểu hiện qua cả đời sống vật chất và tinh thần như lối sống, cách ăn mặc, phong tục, tín ngưỡng, lễ hội, nghệ thuật dân gian,… Tuy nhiên, rất khó để xác định đâu là ranh giới cho một vùng văn hóa bởi đây là một loại ranh giới trừu tượng dựa trên suy luận chủ quan của người nghiên cứu. Có thể hiểu, ranh giới của vùng văn hóa không đơn giản là một đường kẻ, phân cách riêng biệt, khác nhau giữa hai vùng văn hóa mà đó là một vùng chuyển tiếp văn hóa với những nét giao thoa giữa hai vùng. Môi trường tự nhiên và hoạt động sản xuất của chủ thể không là nhân tố duy nhất tạo nên đặc trưng của một vùng văn hóa. Do đó, để xem xét sự hình thành của một vùng văn hóa cần chú ý thêm đến nguồn gốc tộc người và ngôn ngữ của tộc người trong vùng, ngôn ngữ chính là phương tiện để sáng tạo và chuyển tải văn hóa, nhất là văn hóa dân gian.
Bên cạnh đó, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng góp phần quy định các đặc trưng văn hóa vùng qua cơ chế sáng tạo, hưởng thụ các sản phẩm văn hóa và tư duy văn hóa – nghệ thuật. Văn hóa biển Biển và đại dương có vị trí và vai trò quan trọng trong quá trình hình thành văn minh loài người, cung cấp tài nguyên thiên nhiên, bề mặt cho giao thông và hàng hải và cả không gian pháp lý. Khuynh hướng nghiên cứu Nhân học trên biển (Maritime anthropology) trong 19 nửa đầu thế kỷ XX chủ yếu nghiên cứu và so sánh các cộng đồng đánh cá và cư dân ven biển có nền văn hóa và tổ chức xã hội được xây dựng từ sự quen thuộc với môi trường biển, từ đó tạo nên sự khác biệt so với những cư dân đất liền với hoạt động nông nghiệp, săn bắt và hái lượm. Trong thập niên 1970, khuynh hướng này phát triển mạnh mẽ và thêm điểm nhấn mới vào hướng nghiên cứu với khía cạnh nghiên cứu dưới biển.
Khái niệm Dân tộc học dưới biển (marine ethnology) và Nhân học dưới biển (marine anthropology) được định nghĩa bao quát “nghiên cứu về hiện tượng văn hóa, sinh học – văn hóa, sinh học hay thực tiễn liên quan đến các hoạt động của con người có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với biển” bởi Asahirato Nishimura. Đến những năm 2000, nhà nhân học Akifumi Iwabuchi đề xuất nhân học dưới biển bao gồm cả nhân học trên biển. Theo cách hiểu này có lẽ được đồng nhất thành Nhân học biển (Maritime anthropology) như ngày nay. Trong nghiên cứu Nhân học biển thường bao quát cả nội dung nghiên cứu Văn hóa biển (marine culturology/ marine culture) với hướng nghiên cứu tập trung tìm hiểu sự thích nghi của con người với môi trường biển.
Khái niệm “văn hóa biển” ở Việt Nam vẫn còn khá mới.