Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ CỦA VIỆC TÌM HIỂU THƠ LẨU Ở CHỢ ĐỒN - BẮC KẠN Thơ lẩu là một hình thức văn hoá dân gian đặc sắc của người Tày, trong đó có người Tày ở Chợ Đồn - Bắc Kạn. Nó là sản phẩm của quá khứ, hiện tại và vẫn còn khả năng phát triển trong tương lai. Thơ lẩu là cái bóng, là sự khúc xạ hiện thực cuộc sống. Sự vận động phát triển của Thơ lẩu phụ thuộc vào sự phát triển của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội.
Nghiên cứu về Thơ lẩu, trước tiên phải tìm hiểu những khái niệm có liên quan và cuộc sống của người Tày ở địa phương. Đây là cơ sở lý luận và thực tế cho việc nghiên cứu luận văn. Môi trƣờng tự nhiên, xã hội, văn hóa 1. Môi trường tự nhiên “Con người sống dựa vào thiên nhiên, như thế nghĩa là tự nhiên là thân thể của con người, để khỏi phải chết con người phải ở trong quá trình trao đổi với cơ thể đó” [34, tr.
Tự nhiên không những là môi trường sống, mà còn là đối tượng để con người tác động, sản xuất ra của cải vật chất, phát triển xã hội và hình thành nên đời sống văn hóa của mình. Như vậy, tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển và tồn tại của văn hoá, văn học nghệ thuật dân tộc. Thiên nhiên Bắc Kạn khá đa dạng, phong phú, với nhiều tiềm năng kinh tế, du lịch. Với trên 80% diện tích là đồi núi, có hệ thống núi đá, núi đất xen kẽ nhau khá phức tạp.
Từ ngàn xưa, núi rừng Bắc Kạn đã được biết đến là một kho tài nguyên động, thực vật vô giá của đất nước. Rừng Bắc Kạn có tổng diện tích 235.200 ha, độ che phủ 49% diện tích [13]. Thị xã Bắc Kạn nằm trên trục đường quốc lộ số 3, cách Hà Nội 166 km về phía Bắc. Cách thị xã Bắc Kạn 46 km, hướng Tây Bắc là huyện miền núi Chợ Đồn.
Huyện Chợ Đồn nằm ở phía Tây tỉnh Bắc Kạn. Phía Đông giáp 9 huyện Bạch Thông và thị xã Bắc Kạn. Phía Nam giáp huyện Định Hóa (Thái Nguyên). Phía Tây giáp huyện Chiêm Hóa, Na Hang (Tuyên Quang).
Phía Bắc là huyện Ba Bể (Bắc Kạn). Huyện có diện tích 912 km2. Các đơn vị hành chính gồm 1 huyện lỵ (thị trấn Bằng Lũng) và 21 xã (xã Bình Trung, xã Yên Nhuận, xã Nghĩa Tá, xã Lương Bằng, xã Phong Huân, xã Yên Mỹ, xã Đại Xảo, xã Bằng Lãng, xã Đông Viên, xã Rã Bản, xã Phương Viên, xã Ngọc Phái, xã Yên Thượng, xã Yên Thịnh, xã Bản Thi, xã Quảng Bạch, xã Bằng Phúc, xã Tân Lập, xã Đồng Lạc, xã Xuân Lạc, xã Nam Cường). Thị trấn Bằng Lũng nằm cách thị xã Bắc Kạn 45 km về hướng Tây theo đường tỉnh lộ 257.
Tuyến giao thông chính là tỉnh lộ 254 đi qua huyện ly, đi về hướng Bắc là huyện Ba Bể, về hướng Nam là huyện Định Hóa (Thái Nguyên). Huyện Chợ Đồn mang đầy đủ đặc điểm tự nhiên, thiên nhiên Bắc Kạn. Khí hậu Chợ Đồn là khí hậu nhiệt đới gió mùa, tuần hoàn theo bốn mùa rõ rệt. Mùa hạ hơi nóng, mưa nhiều, mùa đông khô hanh, lạnh lẽo.
Độ ẩm trung bình trong năm cao, nguồn nước dồi dào, lượng mưa lớn, mật độ sông, suối tương đối dày. Tất cả đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của hệ động, thực vật. Thực vật nơi đây đa dạng, phong phú với các loại cây lấy gỗ, cây dược liệu… Động vật trước kia có nhiều loại thú quý, nhiều loài được ghi vào sách đỏ Việt Nam như gà lôi trắng, voọc mũi hếch… Tiếc rằng do nhiều nguyên nhân mà nguồn tài nguyên này đã bị suy giảm nghiêm trọng. Đến nay việc trồng, bảo vệ rừng đã và đang được các cấp chính quyền, nhân dân quan tâm theo chính sách của Đảng, Nhà nước đề ra.
Môi trường núi rừng tự nhiên đã giúp Chợ Đồn - Bắc Kạn có được cái nôi vật chất nuôi sống đồng bào, đồng thời là đất mẹ sản sinh ra một nền văn hóa miền núi đặc trưng, trong đó có Thơ lẩu. Môi trường xã hội Xét trên bình diện khảo cổ học - lịch sử, với các bằng chứng khảo cổ tìm được cho tới nay, tuy mới chỉ là bước đầu và còn ít ỏi, nhưng đã khẳng định 10 sự có mặt từ rất sớm của người Tày cổ ở Bắc Kạn. Truyện “Tài Ngào” lưu truyền ở Chợ Đồn - Bắc Kạn kể rằng: Xa xưa, người khổng lồ Tài Ngào đã chọn mảnh đất này để làm ruộng. Những mỏm đá to lô nhô nằm giữa các con suối - đầu nguồn dòng sông Cầu, ở phía Bắc xã Phương Viên là đàn trâu của Tài Ngào đằm ở đó.
Như vậy, chính những người Tày cổ cùng với sự phát triển của lịch sử, đã lao động cần cù và đấu tranh không ngừng để sáng tạo ra một nền văn hoá giàu sức sống và đậm sắc thái bản địa, cũng như đóng góp trực tiếp vào nền văn minh Đông Sơn – Văn Lang trong lịch sử Việt Nam. Xét về nguồn gốc lịch sử, người Tày Bắc Kạn gồm 3 bộ phận là: bộ phận người Tày cổ bản địa, bộ phận người Tày gốc Kinh ở miền xuôi lên, bộ phận Tày từ Quảng Tây (Trung Quốc) đến lập nghiệp [52, tr. Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn có dân số là 46.000 người (năm 2004) [4, tr. Nơi đây có số lượng người Tày cư trú đông, chủ yếu thuộc bộ phận người Tày cổ bản địa [14].
Họ đã sáng tạo ra nghề nông lúa nước và xây dựng nền văn hoá truyền thống địa phương. Họ sống theo gia đình. Các gia đình lại sống quần tụ với nhau tạo nên các làng bản ở ven đồi, ven suối. Bản có thể ít hoặc nhiều hộ, địa giới có thể dài, rộng cả cây số do địa hình chia cắt.
Xã hội phát triển, do sự cộng cư và giao lưu văn hoá, giờ đây cư dân Chợ Đồn - Bắc Kạn còn có người Kinh, Dao Đỏ, Nùng. cùng sinh sống. Trong đó có một bộ phận nhỏ những người khác tộc đã chuyển hoá thành người Tày. Họ sống đoàn kết, thương yêu, tiếp thu văn hoá của nhau và tạo nên đại gia đình các dân tộc anh em trên mảnh đất thân yêu này.
Kinh tế huyện Chợ Đồn vẫn lấy nông nghiệp làm chủ đạo, do địa hình thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên khả năng phát triển về công nghiệp và dịch vụ còn hạn chế. Người Tày ở Chợ Đồn - Bắc Kạn sống chủ yếu nhờ trồng trọt, thu hái nông thổ sản, sau nữa là chăn nuôi, làm thủ công gia đình. Họ sống bằng nghề nông nhưng thạo một số nghề thủ công truyền thống như: đan lát, dệt vải, đan lưới, cất rượu. 11 Nếu trước đây, kinh tế của đồng bào ở Chợ Đồn - Bắc Kạn là tự cung tự cấp thì ngày nay, họ sản xuất không những đáp ứng đủ nhu cầu mà còn để trao đổi, mua bán.
Những buổi chợ phiên được tổ chức cách nhau 5 ngày thường thu hút rất đông người. Đồng bào đến chợ không chỉ vì mục đích kinh tế mà còn đi chơi chợ. Nhiều đôi trai gái đã nên vợ nên chồng sau những buổi chợ phiên. Chợ phiên là một nét sinh hoạt văn hoá đặc trưng của đồng bào miền núi Bắc Kạn.
Trong những năm gần đây (từ năm 2000 đến nay) tỉnh Bắc Kạn đã chú trọng phát triển kinh tế tại huyện Chợ Đồn, trong đó kêu gọi các nhà đầu tư tiến hành thăm dò và khai thác các nguồn lợi về khoáng sản (nhiều nhất là quặng sắt, chì.), nên kinh tế huyện Chợ Đồn đã có bước tiến vượt bậc, góp phần vào sự phát triển chung của tỉnh Bắc Kạn. Chính sự phát triển của môi trường xã hội mà người Tày ở Chợ Đồn - Bắc Kạn đã tiếp cận được với tinh hoa văn hoá của các dân tộc khác, dựa trên nền văn hoá truyền thống lâu đời để hình thành, củng cố, phát triển văn hoá xã hội Tày nói chung, Thơ lẩu nói riêng.3 Đời sống văn hóa Người Tày ở Chợ Đồn - Bắc Kạn có một đời sống văn hoá vật chất khá đa dạng, giàu bản sắc dân tộc. Về nhà ở, nhà sàn là kiểu nhà truyền thống của người Tày. Ngày nay, một bộ phận người Tày ở gần chợ và dọc trục đường giao thông còn xây dựng nhà đất, nhà sàn cải tiến.
Nhưng nhìn chung, nhà sàn truyền thống vẫn được ưa chuộng. Nhà sàn đã gắn với đời sống, nghi lễ, phong tục của đồng bào. Trước kia, họ thường xây dựng chuồng trại chăn nuôi ngay dưới gầm nhà để dễ dàng chăm sóc, bảo vệ vật nuôi. Ngày nay, do nhận thức tiến bộ hơn, chuồng trại chăn nuôi được đồng bào tách khỏi khu ở.
Đồng bào còn xây dựng các công trình phụ khác: nhà kho, giếng nước, nhà vệ sinh. 12 Về trang phục, xa xưa, người Tày mặc quần áo vải chàm, tự khâu lấy. Ngày nay, quần áo dân tộc không còn phổ biến. Họ ăn mặc theo kiểu thời trang phổ thông.
Những đám cưới ăn mặc kiểu truyền thống đã dần ít đi. Người Tày có nghệ thuật ẩm thực khá phong phú. Bên cạnh những món ăn truyền thống, họ còn sáng tạo thêm các món ăn hợp khẩu vị. Nhiều phụ nữ, thầy cúng kiêng không ăn thịt trâu, bò, chó, mèo.
cũng không đem những thức ăn chế biến từ loại thịt này cúng thánh thần, gia tiên, bởi họ coi đó là đồ ăn uế tạp, hoặc do tâm lý không ăn thịt động vật nuôi có ích, gần gũi. Đồ uống của người Tày cũng khá đa dạng. Ngoài nước đã đun, các loại chè tự trồng và sao được, họ còn nấu, cất rượu để dùng trong các dịp lễ hội, tụ tập sinh hoạt. Chè và rượu là hai thức uống phổ biến, sang trọng trong sinh hoạt văn hoá Tày.
Người Tày rất coi trọng văn hoá tinh thần. Trong văn hoá ứng xử, đồng bào trọng đạo nghĩa. Hầu hết mỗi dòng họ đều có gia phả, thứ bậc theo chi nhánh, chứ không theo quan niệm ai sinh ra trước là anh, là chị. Con cái phải hiếu nghĩa với cha mẹ, vợ chồng phải chung thuỷ sắt son, anh em phải thuận hoà, đoàn kết.
Hàng xóm, bạn bè cũng coi như người trong gia đình “tối lửa tắt đèn có nhau”. Người Tày đã tiếp thu cái hay, cái đẹp trong đạo đức lễ giáo để xây dựng văn hoá ứng xử của dân tộc mình. Người Tày ở Chợ Đồn - Bắc Kạn rất thích sinh hoạt tập thể như vui chơi, ca hát. Họ hát Then, hát Lượn, hát đối đáp trong các dịp lễ hội, văn nghệ quần chúng.
Đám cưới hay đám ma đều có các bài ca nghi lễ.