CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ THỂ LOẠI TẢN VĂN VÀ TẢN VĂN CỦA NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ 1. Khát quát về thể loại Tản văn 1. Khái niệm tản văn Tản văn – một thể loại tưởng như không có thời hưng thịnh, tưởng như người đọc chẳng có lúc nào phải đắn đo, và cũng chẳng đến nỗi có lúc phải đưa ra bàn tán, ấy thế mà đã đến lúc mọi việc đều đã thay đổi và người đọc đã phải tìm đến những cuốn tản văn, và những trang tản văn cũng đeo đuổi bám rễ và làm trắc ẩn những suy nghĩ trong tâm hồn người đọc. Tuy vậy, cho đến nay cách gọi tản văn vẫn chưa thống nhất về nội hàm ý nghĩa : Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê định nghĩa: “Tản văn: 1.
Loại văn gồm các thể kí và các thể văn khác, ngoài truyện, thơ và kịch” [23,Tr. Theo Từ điển Hán Việt, Đào Duy Anh định nghĩa: “Tản văn, văn xuôi không có vần” [1,Tr. Từ điển thuật ngữ văn học – Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội, năm 1997 là cuốn duy nhất đã xác định tản văn ngoài nghĩa là văn xuôi còn có nghĩa là một thể loại văn học có những đặc trưng riêng biệt: “Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật, lối thể hiện đời sống mang tính chất khám phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh, điều cốt yếu là tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩ của tác giả”[11,Tr. Trong cuốn Năm bài giảng về thể loại, Hoàng Ngọc Hiến quan niệm “Tản văn là một tiểu loại kí ngắn gọn, hàm súc theo tùy hứng của tác giả có thể bộc lộ trữ tình, tự sự hoặc nghị luận, thường có mấy thứ đan quyện vào nhau”[14,Tr.
Trần Đình Sử trong bài viết “Tản văn hiện đại Việt Nam – Một thể loại bị lãng quên” - lời giới thiệu cuốn Tản văn hiện đại Việt Nam có viết: “Tản văn là một thể loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc. Nó không đòi hỏi phải có một cốt truyện đầy đủ hay phải sáng tạo những nhân vật hoàn chỉnh. Cấu tứ tác phẩm được triển khai từ một vài tín hiệu thẩm mỹ đóng vai trò trung tâm trong thế giới nghệ thuật. Đó có thể là những hình ảnh, chi tiết hoặc một hiện tượng đời sống cụ thể”[47].
11 Có rất nhiều các quan niệm xoay quanh khái niệm tản văn tuy nhiên các quan niệm trên đều thống nhất: tản văn là một thể loại văn xuôi có tính hàm súc, có thể là trữ tình, tự sự, nghị luận đan xen và đều bộc lộ trực tiếp dấu ấn riêng, cái tôi tác giả. Có lẽ cũng vì vậy, nhà văn trẻ Nguyễn Trương Qúy đã lựa chọn tản văn để chuyển tải những cái tứ của đời sống. Tản văn cho phép tác giả thoải mái mổ xẻ và đưa ra quan niệm riêng của mình. Đặc trưng thể loại tản văn Gần đây, Tiến sĩ Lê Trà My đã có những công trình nghiên cứu về thể loại tản văn.
Theo Tiến sĩ Lê Trà My thì tản văn có nhiều yếu tố tương đồng với những thể loại như tạp văn, tạp bút… nhưng về cơ bản, tản văn vẫn có những đặc trưng riêng để phân biệt với các thể loại khác của văn học. Tản văn là những tác phẩm văn xuôi có dung lượng ngắn, hàm súc và không có cốt truyện. Tản văn chủ yếu chú trọng vào chi tiết nên có thể coi đây là một thể loại văn xuôi không đòi hỏi cốt truyện. Người viết tản văn thường lựa chọn vài ba nét từ chất liệu cuộc sống, dựa vào đó để bày tỏ thế giới nội tâm cũng như cảm xúc của mình về thế giới.
Ví như từ một cành hoa mận mà gợi nhớ bao kí ức tuổi thơ êm đềm, đầy ắp những kỉ niệm ngọt ngào thời thơ ấu bên gia đình (Một loài hoa thương nhớ - Đỗ Bích Thúy);. chỉ là chuyện đi làm công sở cũng thành chuyện: “Tại sao khi mới đi làm chúng ta ai cũng hăm hở? “Tưởng như bầu nhiệt huyết đang sôi sục trong người chỉ chờ có cơ hội là được bộc lộ. Vậy mà chỉ sau vài ngày đi làm ở công sở, chúng ta cứ chuội dần đi…”[24] Và thấy cái gì cũng như ngày càng có vẻ chậm hơn… Tất cả những điều tưởng chừng như tủn mủn, lặt vặt ấy đều có thể là cái cớ cho một tản văn ra đời. “Vấn đề còn lại chỉ là sức cảm, sức nghĩ, là độ rộng và chiều sâu trong trường liên tưởng của người viết mà thôi.
Nói gọn lại, tản văn là phải tạo ra “một cái gì đó” có ý nghĩa tiếp sau cái cớ ban đầu kia; “một cái gì đó”, nói kiểu công thức “chạm vào trái tim và khối óc người đọc” theo một cách riêng của văn chương”[24,tr. Với công phu tinh lọc như vậy, các chi tiết xuất hiện trong tản văn thường rất hàm súc, giàu sức gợi. Có thể coi tản văn như là “thơ tứ tuyệt” của văn xuôi. Tản văn là loại tác phẩm được cấu tứ.
Về phương diện kết cấu, tản văn là loại tác phẩm trữ tình biểu lộ thế giới tinh thần của chủ thể. Nó không coi trọng 12 thông tin, sự kiện mà cốt là ở cách nhìn, cách lí giải sự kiện. Kết cấu tác phẩm tản văn dựa trên sự liên tưởng kết nối các sự kiện, nhân vật, hình ảnh, chi tiết vào với nhau. Các chi tiết trong tản văn thường không gắn kết thành một bức tranh đời sống mang tính khách quan như trong các tác phẩm tự sự mà chúng chỉ là những tín hiệu bộc lộ chủ thể nhà văn bởi nghệ thuật tản văn như đã nói là nghệ thuật biểu hiện.
Giả Bình Ao nói nghệ thuật tản văn là “nghệ thuật của biểu hiện chứ không phải đòi bạn tái hiện”. Do vậy, quan hệ giữa các chi tiết thường là quan hệ liên tưởng nhờ sự tưởng tượng phóng túng, bay bổng của nhà văn tạo nên ý tưởng độc đáo cho tác phẩm. Cấu tứ trong tản văn chủ yếu dựa trên sự liên tưởng này. Tản văn có thể coi là thể loại có vẻ dễ viết nhưng khó hay.
Muốn tạo ra những tác phẩm tản văn hay đòi hỏi trình độ người viết phải tạo ra một cấu tứ, một tổ chức mang tính nghệ thuật cao, một vốn kiến thức đa ngành, liên ngành; cả nghệ thuật chơi chữ, mặc dù chỉ là tiểu xảo nhưng lại có khả năng điểm xuyến làm sinh động ý tưởng. Tản văn bộc lộ trực tiếp cái “tôi” của tác giả. Đây là đặc điểm nổi bật nhất của tản văn so với các thể loại khác. Xét một cách khách quan, ở thể loại văn học nào thì cái tôi nghệ sĩ của tác giả cũng ít nhiều in dấu trong tác phẩm.
Ở truyện ngắn, tiểu thuyết, cái tôi của nhà văn ẩn mình vào những hình tượng nhân vật. Ở thơ, cái tôi nhà thơ có phần bộc lộ rõ hơn so với truyện ngắn và tiểu thuyết, tuy nhiên vẫn ẩn mình dưới hình tượng nhân vật trữ tình. Ở tản văn, nhà văn trực tiếp cất lên tiếng nói, như nói trực tiếp câu chuyện, quan điểm của chính mình. Ở tản văn, người viết văn công khai với tư cách là chủ thể lời nói nghệ thuật và biến mình trở thành hình tượng nhân vật.
Nhà tản văn nổi tiếng người Trung Quốc Tiền Cốc Dung có từng viết về đặc trưng của tản văn như sau: “Vốn dĩ mọi tác phẩm văn học đều in dấu tính tình, phẩm cách của tác giả nhưng ở thơ, tiểu thuyết, kịch, tác giả thường ẩn mình đi, bọc mình lại khiến bạn đọc không dễ gì thấy ngay được diện mạo thật của họ. Còn tản văn thì không thế. Tác giả của chúng không hề tô điểm, trang sức mà cứ trần trụi ra trong mắt bạn đọc. Hễ điều gì nói ra đều là những điều phát tự lòng mình, không một chút giả dối, điểm tô.
Tác giả dường như thủ thỉ tự nói một mình, tự thổ lộ nỗi niềm, hoặc như trút bầu tâm sự với người quen cũ lâu ngày không gặp lại. Qua tác phẩm của họ, bạn đọc thấy ngay được con người họ, thấy ngay được bản sắc, bản tướng của họ. Cho nên 13 tản văn là tác phẩm thấy được tính tình tác giả rõ nhất, do vậy dễ viết nhất mà cũng khó viết nhất. Những ai không thực sự có tính tình, hoặc không thực sự có lời muốn ngỏ thì tốt nhất là không nên viết tản văn”[17].
Dựa trên nguyên tắc tự biểu hiện, người viết tản văn thường có xu hướng lấy ngay chính cuộc sống của mình ra làm chất liệu để xây dựng tác phẩm. Do đó, sức mạnh của tản văn trước hết là nhân cách, bản lĩnh, tầm tư tưởng, cách nhìn, cách cảm và sự uyên bác của người cầm bút. Tản văn có cách thức biểu hiện đa dạng: Tản văn được xem là thể văn tự do và phóng túng nhất. Vì “Tất cả các yếu tố của thể loại, đối với tản văn đều hết sức tự do, bất luận là chọn đề tài, lập ý hay bố cục kết cấu, hay vận dụng thủ pháp biểu hiện”[47].
Có nhiều phong cách viết tản văn khác nhau có cách viết nghiêm túc, có khi là cười cợt,trữ tình, chính luận, triết lí. Cách viết tản văn cũng rất đa dạng: tự sự, trữ tình, hoặc nghị luận, hoặc pha xen các cách viết khác nhau. Giả Bình Ao từng nói: “Tản văn là nghệ thuật bay, nghệ thuật bơi, nó tự do thoải mái”. Tản văn là thể văn cho phép người viết thỏa sức khai thác đề tài ở mọi lĩnh vực đời sống, không hạn định bởi một khuôn mẫu nào.
Trần Đình Sử trong Tản văn Việt Nam hiện đại – một thể loại bị lãng quên có viết: “Tản văn nói được bao điều suy nghĩ, nung nấu, cảm xúc trong lòng về con người, thế sự, đạo lí, về thiên nhiên, môi trường, chính trị, văn nghệ. Tính tự do của tản văn khiến tản văn có thể kết hợp nhiều kiểu loại chi tiết từ chi tiết xác thực đến chi tiết hư ảo, hoang đường. Có thể nói, chưa có thể loại nào đạt tới sự ngẫu hứng, phong phú và đa dạng như tản văn. Giọng điệu tản văn: Tản văn được coi là thể loại văn ngẫu hứng, văn chơi nên giọng điệu thường nhẩn nha, trò chuyện, tâm sự.
Có người nói đọc tản văn như “nghe những lời nhỏ nhẹ của mẹ, của vợ, của bạn thân quanh bàn trà, điếu thuốc”. Người viết tản văn có tâm thế nhàn tản, cái nhàn của con người biết thoát khỏi những o ép đời thường, tìm tới sự thấu triệt sâu sắc của lẽ đời. Tản văn thích hợp với sự ngâm ngợi, chiêm nghiệm, điềm tĩnh mà đằm sâu.