MỞ ĐẦU Squalene là tiền chất steroit của động, thực vật, được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp mỹ phẩm, có tác dụng chống khô da và làm mềm da, có vai trò bảo vệ da khỏi các tác hại do ánh sáng, tia UV gây ra. Các nghiên cứu dịch tễ học đã cho thấy squalene ức chế hiệu quả các tác nhân hóa học có khả năng gây ung thư ruột kết, phổi, da ở động vật thực nghiệm. Squalene cần thiết cho cơ thể bởi nó là một chất chống oxy hoá tự nhiên có vai trò bảo vệ các tế bào khỏi các gốc tự do và oxy phân tử có hoạt tính cao, có khả năng tăng cường hoạt động của hệ miễn dịch. Việc cung cấp thực phẩm chức năng có thành phần squalene cao (khoảng 500 mg/ngày) đã được chứng minh là cần thiết cho sức khỏe dinh dưỡng của con người, làm giảm đáng kể bệnh tim mạch và ung thư vì vậy chúng cũng được dùng phổ biến trong dược phẩm.
Cho đến nay, các nguồn sản xuất squalene được biết đến nhiều nhất là các loại dầu động, thực vật. Dầu o liu chứa hàm lượng squalene cao nhất trong khi một số loại dầu khác như dầu cọ, dầu ngô, dầu vừng lại có hàm lượng squalene không cao. Dầu gan cá mập là một nguồn nguyên liệu truyền thống cho tách chiết squalene có hàm lượng và chất lượng cao. Tuy nhiên, việc duy trì nguồn cung cấp squalene liên tục và lâu dài ngày càng gặp khó khăn do sự suy giảm nguồn cá trong tự nhiên cũng như các vấn đề về thổ nhưỡng và mùa vụ của các loại cây trồng.
Trong khi đó, hiện nay, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, nhu cầu về squalene làm nguyên liệu trong ngành công nghiệp dược phẩm và mỹ phẩm đang ngày càng tăng. Do vậy, việc tìm kiếm và phát triển các nguồn nguyên liệu mới thay thế nguồn truyền thống để tách chiết squalene là rất cần thiết và đang được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Trong đó, vi sinh vật nói chung và vi tảo biển nói riêng là một nguồn tiềm năng cho sản xuất squalene trên qui mô lớn. Tảo lục Botrycoccus braunii có khả năng tổng hợp squalene cao nhưng tốc độ sinh trưởng rất thấp và là cơ thể quang tự dưỡng bắt buộc nên gây khó khăn cho việc thương mại hóa sản phẩm này.
Trong khi đó, một số các loài vi tảo biển dị dưỡng như thraustochytrids được xem như là các nhà máy tế bào tiềm năng cho sản Nguyễn Cẩm Hà - K16 1 xuất các chất có giá trị cao trong đó có squalene. Chi tảo thraustochytrid có hàm lượng squalene cao, có tốc độ sinh trưởng cao trong điều kiện nuôi cấy dị dưỡng có bổ sung nguồn cacbon hữu cơ và không cần có ánh sáng bởi vì cơ thể chúng có bộ máy quang hợp đã bị thoái hóa. Do vậy, việc nâng cấp quy mô nuôi trồng chúng bằng các hệ thống bình lên men khác nhau để bảo đảm cung cấp đủ nguồn nguyên liệu cho sản xuất squalene hứa hẹn sẽ có thành công. Phòng Công nghệ Tảo, Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam hiện đang có một tập đoàn giống vi tảo biển quang tự dưỡng và dị dưỡng của Việt Nam.
Nhiều loài vi tảo trong tập đoàn giống có thể là nguồn cung cấp cho việc tách chiết squalene trên quy mô lớn. Chính vì vậy, chúng tôi mong muốn tiến hành đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu sàng lọc squalene từ một số chủng vi tảo biển phân lập ở Việt Nam” nhằm cung cấp cơ sở khoa học ban đầu về hàm lượng squalene ở vi tảo biển Việt Nam, có được các phương pháp nghiên cứu phù hợp với điều kiện phòng thí nghiệm về tách chiết, xác định squalene trong sinh khối vi tảo biển để bước đầu tìm ra được một số chủng tiềm năng cho việc nghiên cứu sâu hơn theo định hướng sử dụng squalene làm thực phẩm chức năng và dược phẩm trong tương lai ở Việt Nam Luận văn nghiên cứu có một số nội dung như sau: 1. Sàng lọc một số chủng vi tảo biển của Việt Nam có khả năng nuôi trồng trên quy mô lớn và có hàm lượng squalene cao. Xây dựng các phương pháp xác định nhanh chóng hàm lượng squalene phù hợp với điều kiện phòng thí nghiệm của Việt Nam để sử dụng cho việc sàng lọc nhanh các chủng tiềm năng cho sản xuất squalene.
Bước đầu tách chiết và làm sạch squalene từ chủng tiềm năng lựa chọn được. Công việc nghiên cứu được thực hiện tại phòng Công nghệ Tảo, Viện Công nghệ sinh học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Nguyễn Cẩm Hà - K16 2 CHƢƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Giới thiệu chung về squalene 1. Nguồn gốc squalene Mặc dù ở độ sâu từ 500m -1000m dưới lòng biển, nơi hầu như không có ánh sáng mặt trời, không có thực vật, do đó hàm lượng oxy rất thấp, nhiệt độ trung bình quanh năm khoảng 2°C, áp suất nước là 50-100kgf/cm2 nhưng cá mập biển sâu vẫn sống và tồn tại được. Một vấn đề được nêu ra là làm sao loài cá mập đại dương lại có thể sinh tồn trong một môi trường sống khắc nghiệt như vậy được. Các nhà sinh vật học đã nghiên cứu và nhận thấy ở loài cá mập đại dương này có bộ phận gan lớn hơn rất nhiều so với gan của các loài cá khác.
Trong đó, 80% gan cá này là dầu có chứa một chất được xem là “thần bí”. Sau này, chất này được xác định là squalene. Khả năng tồn tại được trong điều kiện sống bất lợi nêu trên đối với cá mập đại dương liên quan nhiều đến sự có mặt squalene với hàm lượng cao ở gan của nó. Squalene có khả năng nâng cao sức sống cho tế bào và tăng sức đề kháng của cơ thể cá mập và chính những điều này đã giúp cho loài cá này có thể tự do sinh tồn trong môi trường biển với độ sâu 500m – 1000m.
Dầu gan cá mập chứa khoảng 60-85% chất hữu cơ nêu trên trong khi ở dầu oliu chất này có hàm lượng chỉ khoảng 0,4- 0,8 %. Cư dân của bán đảo Izu của Nhật Bản đã uống một loại dầu được đặt tên địa phương là “Samedawa” có nghĩa là “chữa được tất cả” các bệnh. Theo các dẫn chứng khoa học thì từ xa xưa, người Nhật Bản chủ yếu đã sử dụng nhiều hải sản trong chế độ ăn uống của họ. Vì vậy, không quá ngạc nhiên vào năm 1916, một nhà hóa học người Nhật Bản là Tiến sĩ Tsujimoto đã chứng minh được rằng “Samedawa” chứa một lượng rất lớn các hydrocacbon không bão hòa.
Ông gọi nó là squalene do sự xuất hiện của nó trong dầu gan cá mập, từ gốc Latin là “Squalus” (cá mập) [90]. Cấu trúc squalene Mười năm sau phát hiện của Tiến sĩ Tsujimoto, cấu trúc của squalene đã được xác định như một dihydrotriterpene và là một chất trung gian trong quá trình Nguyễn Cẩm Hà - K16 3 sinh tổng hợp của steroit [39]. Năm 1934, Robinson đã công bố cấu trúc vòng của squalene với phân tử steroit [78]. Tuy nhiên, đến năm 1936 công thức hóa học của squalene mới được công bố đầy đủ do Karrer, (1943) – người cũng đã khám phá ra cấu trúc hóa học của vitamin A và E.
Squalene từ dầu gan cá mập được đặt tên theo tiếng Latin là “squalene oxogene oleum”. Trong y học nó được gọi là Spinacene hay Supraene. Theo công bố của Kohno và cộng sự (1995) [52] thì squalene có cấu tạo: (2,6,10,15,19,23–hexanmethyltetracosa-2,6,10,14,18,22-hexane) - là một hydrocacbon hợp chất béo không bão hòa (C30H50), với 6 liên kết đôi, chứa 6 đơn vị isoprene để cung cấp bộ khung cho tổng hợp cholesterol axit mật và steroit, là một chất trao đổi trung gian quan trọng trong sinh tổng hợp sterol và triterpenes ở động vật và thực vật (Hình 1. Do cấu trúc của liên kết đôi trong sáu nhóm CH 3, các isoprenoit có tác dụng chống oxy hóa tự nhiên một cách mạnh mẽ.
Squalene có cấu trúc tương tự như các isoprenoit khác như β-carotene, lycopene, vitamin A, vitamin E, và coenzyme Q10 [24]. Cấu trúc hóa học của squalene (C30H50) [48] Trên thực tế, squalene là một chất trao đổi trung gian và là tiền chất của quá trình tổng hợp cholesterol. Trong cơ thể của con người, squalene được biến đổi thành cholesterol chứa lipoprotein tỷ trọng cao nhờ đó mà cholesterol tốt tăng lên và cholesterol xấu giảm đi. Tính chất hóa học của squalene Squalene không tan trong nước, tan ít trong rượu, axit axetic lạnh, tan vô hạn trong ete, ete dầu hỏa, aceton và các dung môi hòa tan chất béo khác.
Ở dạng tinh Nguyễn Cẩm Hà - K16 4 khiết, nó gần như không màu, không mùi, không vị. Ngoài ra, squalene hấp thụ oxy và trở nên sền sền trông gần giống như dầu hạt lanh (Bảng 1. Các thông số lý hóa của squalene (http://en.org/wiki/Squalene) Trạng thái Chất lỏng Nhiệt độ nóng chảy (độ C) -5 Điểm sôi (độ C) 429 Điểm chớp cháy (độ C) 254 Trọng lượng phân tử 410,73 Độ tan trong nước (g/l) Không tan trong nước Tỷ trọng tương đối (không khí =1) >1 Nhiệt độ bay hơi (kJ/mol) 65,8 Tỷ trọng hơi (không khí =1) 14,2 1. Con đƣờng sinh tổng hợp cholesterol Kể từ khi được phát hiện vào đầu thế kỉ XX, squalene đã được công nhận là mắt xích quan trọng trong con đường trao đổi chất, là một bước trung gian trong quá trình sinh tổng hợp cholesterol và tất cả các hormone steroit.
Cholesterol gắn với lipoprotein có trọng lượng phân tử thấp (LDL-C, Low Density Lipoprotein - Cholesterol) có hàm lượng cao là một nguy cơ đối với những người mắc bệnh tim. Statins là một trong những loại thuốc làm hạ cholesterol máu, có tác dụng ngăn chặn bệnh tim ở người bởi nó ức chế enzyme hydroxy-methylglutaryl-coenzyme A reductase (HMG-CoA reductase) có vai trò xúc tác tạo ra cholesterol. Tuy nhiên, statins có thể gây ra tác dụng phụ ở một số bệnh nhân và đối với một phạm vi người nào đó thì nó lại không có hiệu quả. Thay thế cho statins, hiện nay, một số tác nhân làm giảm cholesterol bằng cách ức chế trực tiếp quá trình sinh tổng hợp squalene được cho là đầy hứa hẹn.
Squalene được chứng minh là một chất ức chế hoạt tính Nguyễn Cẩm Hà - K16 5 của nhóm HMG-CoA reductase và làm tăng hoạt động của Acyl CoA cholesterol acyltransferase [53]. Trong thực tế, tổng hợp nội sinh của squalene bắt đầu bằng việc sản xuất HMG-CoA. Giảm hàm lượng HMG-CoA sẽ kéo theo hình thành mevalonate [7]. Cholesterol được tổng hợp theo con đường mevalonate.
Sau các phản ứng sinh hóa, các nhóm prenyl được bổ sung, các phân tử của nhóm trung gian farnesyldiphosphate được tập hợp và giảm đi, kết quả là hình thành squalene.