Chương 1 KỊCH PHI LÝ VÀ BỐI CẢNH VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY THẾ KỶ XX 1. Bối cảnh lịch sử và xã hội phương Tây thế kỷ XX Thế kỷ XX là thế kỷ có nhiều biến động trên phạm vi toàn thế giới. Hàng loạt sự kiện kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội nổ ra, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống con người. Văn học là tiếng nói của nhân loại, đã phản ánh chân thật và đầy đủ về một giai đoạn lịch sử của loài người.
Điều kiện khoa học - kỹ thuật Thành công của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đem lại cho con người hiện đại rất nhiều thứ. Loài người đã sản xuất ra một khối lượng hàng hóa đồ sộ, cung ứng mọi nhu cầu của đời sống. Những thành tựu đạt được trong các lĩnh vực bưu chính viễn thông, điện tử tin học, công nghệ sinh học, công nghệ môi trường, … đã mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân loại: kỷ nguyên hiện đại, văn minh và tiến bộ. Con người không chỉ chinh phục được cuộc sống ở mặt đất mà đã vươn cao hơn, xa hơn khi đặt chân thám hiểm mặt trăng và các hành tinh ngoài trái đất.
Của cải vật chất tạo ra ngày càng nhiều, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng lớn của con người. Các nước tư bản phương Tây đã ứng dụng mạnh mẽ khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất kinh doanh, đưa nền kinh tế thế giới phát triển lên tầm cao mới. Nhờ đó, các hoạt động khác như chính trị - xã hội, văn hóa - tư tưởng, … cũng được khuyến khích phát triển cho tương xứng với cục diện chung của thế giới. Con người tiến lên xây dựng một xã hội văn minh, hiện đại.
Khoa học kỹ thuật can thiệp vào đời sống một mặt đảm bảo cho con người mức sống cao hơn nhưng mặt khác nó cũng tác động đến quan niệm, tâm tư, tình cảm …. Do đó, con người hiện đại ngày càng trở nên thông minh, tinh vi và táo bạo hơn trước. Kinh tế phát triển, các nhà đại tư bản phương Tây lao mình vào vòng xoáy lợi nhuận. Họ đầu tư máy móc thiết bị hiện đại cho sản xuất, tạo ra khối lượng của cải vật chất khổng lồ mà xã hội không tiêu thụ hết.
Điều này đã dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929), gây nên nhiều xáo trộn trong đời sống con người. Nhà tư bản không thể từ bỏ tham vọng làm giàu, đã bất chấp mọi thủ đoạn mở rộng thị trường tiêu thụ thông qua chiến tranh. Chính vì lẽ đó, thế kỷ XX vừa là thế kỷ của sự giàu có tột độ, vừa là thế kỷ của chiến tranh và tội ác. Khoa học kỹ thuật phát triển cho phép con người có thể sản xuất ra những vũ khí tối tân, đa năng, gây nên thảm họa chết chóc và tiêu vong cho nhân loại.
Điều này lý giải tại sao xã hội càng phát triển, càng hiện đại bao nhiêu thì con người càng trở nên yếu đuối, cô đơn bấy nhiêu. Cái chết, sự tiêu vong và nỗi mất mát có thể đến với bất kỳ ai trong mọi lúc. Chiến tranh còn tiếp diễn thì loài người còn nguy cơ rơi vào hố sâu tội lỗi. Điều kiện chính trị - xã hội Trong suốt thế kỷ XX, chính trường Châu Âu luôn nóng lên vì chiến tranh nếu không trực tiếp xảy ra ở Châu Âu thì cũng xuất phát từ Châu Âu mà ra.
Chiến tranh thế giới lần thứ I (1914 - 1918) là một đòn chí mạng mà chủ nghĩa thực dân đã giáng xuống bầu trời Châu Âu, khiến cho nhân loại sống trong tang tóc và sợ hãi. Những sự kiện chính trị xã hội trong giai đoạn này đã ảnh hưởng có tính quyết định đến sự vận mạng của từng con người. Hàng loạt cuộc chiến cứ nối nhau tiếp diễn: Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), mặt trận Bình Dân ra đời năm 1936, chiến tranh Tây Ban Nha (1936), chiến tranh thế giới lần thứ hai (1941 - 1945), chiến tranh Đông Dương (1946 - 1954), chiến tranh Việt Nam, chiến tranh Agiêri (1955 - 1956), khủng hoảng dầu lửa (1973), chiến tranh Vùng Vịnh (1991), sự li khai của các nước Cộng hòa Nam Tư cũ (1992), sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu… khiến cho nhân loại đau đớn và hoài nghi cuộc sống. Đặc biệt, sự ảnh hưởng của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đã gây ra cơn khủng hoảng tâm lý nặng nề lên toàn nhân loại, nhất là tầng lớp trí thức phương Tây thời bấy giờ.
Hậu quả của chiến tranh và cục diện của thế giới sau chiến tranh đã đặt người trí thức vào “tình huống có vấn đề” 1 phải lựa chọn những ứng xử phù hợp. Trí thức phương Tây lao vào cơn xoáy của tri thức khoa học để tìm ra liệu pháp giải quyết tình thế nhưng thất bại, loài người thêm một lần nữa rơi vào “đêm trường Trung Cổ” bởi những hậu quả do chính con người gây ra chứ không phải Chúa: chiến tranh với vũ khí giết người hàng loạt, con người rơi vào nguy cơ diệt vong. 1 Tình huống có vấn đề: Tình huống buộc con người phải có sự lựa chọn mang tính quyết định (hiểu theo quan điểm của Xã hội học) Nguyên nhân sâu xa hay nguồn gốc của chiến tranh thế giới lần thứ hai là tác động của quy luật phát triển không đều về kinh tế và chính trị giữa các nước tư bản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa. Sự phát triển không đều đó đã làm cho lực lượng so sánh trong thế giới tư bản thay đổi căn bản, làm cho việc tổ chức và phân chia thế giới theo hệ thống Versailles- Washington (kết quả của chiến tranh thế giới thứ nhất) không còn phù hợp nữa.
Điều đó nhất định phải dẫn đến một cuộc chiến tranh mới giữa các nước đế quốc để phân chia lại thế giới. Nguyên nhân trực tiếp của chiến tranh thế giới lần thứ hai là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1939, làm những mâu thuẫn trên thêm sâu sắc, dẫn tới việc lên cầm quyền của chủ nghĩa phát xít ở một số nước với ý đồ gây chiến tranh để phân chia lại thế giới. Thủ phạm gây chiến là phát xít Đức, quân phiệt Nhật Bản và phát xít Italia nhưng các cường quốc phương Tây, do chính sách hai mặt của họ, đã tạo điều kiện cho phe phát xít gây ra cuộc chiến tàn sát nhân loại. Các chiến sự đã xảy ra tại Đại Tây Dương, Châu Âu, Bắc Phi Châu, Trung Đông, Địa Trung Hải, Thái Bình Dương và phần lớn của Đông Á và Đông Nam Á.
Cuộc chiến kết thúc tại châu Âu khi Đức đầu hàng vào ngày 8/5/1945 nhưng vẫn còn tiếp diễn tại châu Á cho đến khi Nhật đầu hàng vào ngày 2/9/1945. Khoảng 54 triệu người đã bị chết do cuộc chiến này, kể cả các hành động tàn sát diệt chủng của Đức Quốc Xã (Holocaust). Là một cuộc chiến tranh toàn diện, kể cả dân thường không ở mặt trận cũng bị đánh bom hàng loạt. Vũ khí nguyên tử, máy bay phản lực và ra-đa …là một số phát minh trong cuộc chiến.
Sau cuộc chiến, châu Âu bị chia ra làm hai phái: một phía chịu ảnh hưởng phương Tây do Mỹ đứng đầu, còn phía kia chịu ảnh hưởng của Liên Xô. Các nước chịu sự ảnh hưởng của Mỹ được phục hồi kinh tế sau khi nhận được viện trợ từ kế hoạch Marshall trong khi các nước khác trở thành các nước cộng sản đứng về phía Liên Xô. Tây Âu liên kết đồng minh trong khối Bắc Đại Tây Dương (NATO), trong khi các nước Đông Âu liên kết đồng minh theo Hiệp ước Warsaw. Các liên minh này đóng vai trò quan trọng trong chiến tranh lạnh sau này.
Tại châu Á, sự chiếm đóng Nhật Bản của quân đội Mỹ đã làm thay đổi nhiều mặt đời sống nước này, trong khi Trung Hoa Dân Quốc trước đây đã thành Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và vùng lãnh thổ Đài Loan. Kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai, xét ở phương diện nhất định, nó vẫn tiếp tục tiềm tàng những mâu thuẫn khác dẫn đến xung đột chính trị quân sự giữa các nước trong suốt những thập niên cuối của thế kỷ XX và kéo dài sang thế kỷ XXI. Biểu hiện rõ nét của cuộc chiến tranh lạnh là chiến tranh Việt Nam giai đoạn hai (1954 -1975), kể từ khi Mỹ tham chiến ở chiến trường Việt Nam. Chiến tranh Việt Nam không chỉ là biểu hiện cụ thể của chiến tranh lạnh mà nó còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn khác.
Chính thời điểm chiến tranh Việt Nam xảy ra khi Mỹ tham chiến đã đem đến cho người trí thức Việt Nam cảm quan sống không khác gì người Châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ hai. Chính vì vậy, Việt Nam trở thành mảnh đất tốt để chủ nghĩa Hiện Sinh tồn tại. Một bộ phận trí thức Việt Nam bi quan trước cục diện của cuộc chiến, ngày càng trở nên gay gắt và hoài nghi vào khả năng giành chiến thắng của dân tộc. Theo họ, cuộc chiến giữa nhân dân miền nam Việt Nam với siêu cường quốc Mỹ hoàn toàn không cân sức, họ e ngại về cuộc chiến.
Hơn nữa, khi người Mỹ nhảy vào Việt Nam thay thế đồng minh đã không được tầng lớp trí thức ủng hộ. Nói cách khác, tầng lớp trí thức Việt Nam đến với chủ nghĩa Hiện Sinh như là phản ứng của ý thức hệ trước thời cuộc, họ không tìm thấy lối thoát cho chính mình và không nhìn thấy tương lai của dân tộc. Họ dùng văn hóa Pháp để phản ứng lại hành động của đế quốc Mỹ. Hai cuộc chiến tranh thế giới, chiến tranh lạnh và chiến tranh Việt Nam với sự khốc hại vô cùng tận đã đẩy con người rơi vào cơn khủng hoảng toàn diện nhất.
Con người hoang mang trước thời cuộc, ranh giới giữa Sinh và Tử là vô cùng mỏng manh. Chính những cuộc chiến ấy đã dội vào tâm thức tầng lớp trí thức đương thời một cảm quan sống bi quan, yếm thế và sợ hãi. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản đưa con người vào vực thẳm của mặc cảm tội lỗi. Trên thế giới, nhất là Châu Âu xuất hiện nhiều trường phái, nhiều khuynh hướng chính trị, tư tưởng khác nhau nhằm lý giải về những hiện tượng thực tế đã xảy ra.
Con người đã thất bại trước hiện thực đời sống vì những gì họ sáng tạo ra bằng tư duy khoa học duy lý, những tưởng đem lại cuộc sống hạnh phúc tốt đẹp lại phản tác dụng, đẩy con người đến nguy cơ diệt vong.