Chương 1: Nhân vật người phụ nữ và truyện ngắn Thạch Lam trong bối cảnh văn xuôi 1930 – 1945 1. Nhân vật người phụ nữ trong văn xuôi giai đoạn 1930 – 1945: Ngƣời phụ nữ luôn là đối tƣợng đƣợc quan tâm hơn cả trong sáng tác của các tác giả tự cổ chí kim. Trong văn học dân gian, ngƣời phụ nữ luôn là tâm điểm của sự sáng tạo, với tiếng nói đồng cảm, ngợi ca. Trong văn học viết, đặc biệt với Đoạn trường tân thanh – Truyện Kiều của Nguyễn Du, ngƣời phụ nữ đã đƣợc ca ngợi, khẳng định.
Ngƣời phụ nữ dù tài sắc vẹn toàn nhƣng số phận vẫn long đong lận đận, gặp nhiều bất hạnh, éo le trong cuộc đời. Tiếp nối và phát huy truyền thống trong văn học dân gian và văn học Trung đại, văn học giai đoạn 1930 – 1945, mà cụ thể là văn xuôi 1930 – 1945 tiếp tục dành cho ngƣời phụ nữ những ƣu ái qua từng trang viết. Trong văn đàn 1930 – 1945, nổi lên hai trào lƣu: văn chƣơng lãng mạn (Văn chƣơng Tự lực văn đoàn) và văn chƣơng hiện thực phê phán. Tự Lực văn đoàn là nhóm viết đƣợc thành lập vào năm 1933, gồm mấy anh em dòng họ Nguyễn Tƣờng nhƣ Nguyễn Tƣờng Tam (Nhất Linh), Nguyễn Tƣờng Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Tƣờng Lân (Thạch Lam), Trần Khánh Giƣ (Khái Hƣng, Nhị Linh) và một số văn nghệ sĩ khác nhƣ Hồ Trọng Hiếu (Tú Mỡ), Nguyễn Thứ Lễ (Thế Lữ), Ngô Xuân Diệu (Xuân Diệu).
Cơ quan ngôn luận của Tự Lực văn đoàn là tuần báo Phong hóa và từ 1936 là tuần báo Ngày nay (khi Phong hóa bị đóng cửa). Phong hóa và Ngày nay đã trở thành những trung tâm tập hợp phong trào văn nghệ lãng mạn, là nơi tuyên truyền cho một cuộc cách tân trong văn học, cho “phong trào Âu hóa” chống lại lễ giáo phong kiến và quan trƣờng phong kiến, là nơi đề xƣớng những hoạt động cải lƣơng tƣ sản (hội Ánh sáng). Phong hóa, Số 101 (8 – 6 – 14 1934) đăng tôn chỉ Tự Lực văn đoàn gồm 9 điểm, trong đó có 5 điểm quan trọng: Dùng lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách An Nam; Ca tụng những nét hay, vẻ đẹp của nƣớc mà có tính cách bình dân, khiến cho ngƣời khác đem lòng yêu nƣớc một cách bình dân. Không có tính cách trƣởng giả quý phái; Trọng tự do cá nhân; Làm cho ngƣời ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa; Đem phƣơng pháp khoa học Thái tây ứng dụng vào văn chƣơng An Nam.
Tự Lực văn đoàn ra đời cách đây đã hơn nửa thế kỷ. Vì vậy khi đánh giá hiện tƣợng văn học này chúng ta phải có quan điểm lịch sử. Mặt khác, tuy là một văn đoàn có tôn chỉ, mục đich, xuất hiện chỉ trên dƣới mƣời năm những nó vẫn không kém phần phức tạp do bao gồm những khuynh hƣớng, sắc thái khác nhau, phát triển trong những thời kì lịch sử khác nhau. Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi không có mục đích đánh giá, nhìn nhận về Tự Lực văn đoàn và các tác giả trong nhóm dƣới cái nhìn lịch sử, chính trị, chúng tôi chỉ nhìn nhận Tự Lực văn đoàn trên phƣơng diện văn chƣơng.
Con đƣờng suy thoái chính trị của Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hƣng thì đã quá rõ, cho nên, sự nghiệp văn chƣơng của nhóm Tự Lực văn đoàn phải tính từ những năm 40 trở về trƣớc. Những ngƣời tham gia Tự Lực văn đoàn cùng chung tôn chỉ, mục đích nhƣng cũng cần phân biệt giữa những ngƣời đầu soái (Nhất Linh, Khái Hƣng, Hoàng Đạo) với những thành viên của nhóm nhƣ Thế Lữ, Xuân Diệu, Tú Mỡ, Thạch Lam,. và các cộng tác viên nhƣ Huy Cận, Thanh Tịnh, Vũ Đình Liên,.Thạch Lam và Trần Tiêu xuất hiện trong thời kì mặt trận dân chủ nên tác phẩm cũng có những màu sắc khác với Nhất Linh, Khái Hƣng, tuy họ là những cặp anh em ruột trong nhóm Tự Lực văn đoàn. Nhất Linh, Khái Hƣng là hai tác giả tiêu biểu trong nhóm có những điểm tƣơng đồng trong sáng tác mà chúng tôi muốn đề cập đến ở mảng truyện ngắn, và cụ thể là những truyện ngắn về ngƣời phụ nữ.
15 Nhất Linh (1906 – 1963) tên thật là Nguyễn Tƣờng Tam, quê quán Quảng Nam, nhƣng sinh ở Cẩm Giàng, Hải Dƣơng. Năm 1932, cùng Khái Hƣng ra báo Phong Hóa, làm giám đốc và viết bài cho đến 1935. Năm 1933, cùng một số nhà văn khác thành lập Tự lực văn đoàn. Sau khi Phong Hóa bị đóng cửa, ông ra tiếp báo Ngày Nay.
Sau 1951, thành lập Nhà xuất bản Phƣợng Giang, ra tạp chí Văn Hóa ngày nay ở Sài Gòn. Năm 1963, ông đã tự tử trong cuộc dấu tranh chống chế độ ông Ngô Đình Diệm. Nhất Linh viết khá nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn. Riêng truyện ngắn, đã in Người quay tơ (Đời nay, 1927), Anh phải sống (Đời nay, 1934), Hai vẻ đẹp (Đời nay, 1934), Hai buổi chiều vàng (Đời nay, 1937), Mối tình câm (Sài Gòn,1961), Thương chồng (Sài Gòn, 1961).
Khái Hƣng (1896 – 1947) tên thật là Trần Khánh Giƣ, sinh ra ở làng Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Dƣơng. Lúc nhỏ, Khái Hƣng theo học chữ Hán nhƣng ông không thích làm quan, thích cuộc sống tự lập, vì vậy vừa đi dạy vừa viết báo để tạo dựng cuộc sống. Từ tác phẩm Hồn bướm mơ tiên đến Khúc tiêu ai oán, Khái Hƣng đóng góp trong kho tàng Văn học Việt Nam khoảng hai mƣơi lăm tác phẩm (truyện dài, truyện ngắn, kịch. Về truyện ngắn, Khái Hƣng sáng tác rất phong phú, xuất hiện thƣờng xuyên trên báo Phong hóa và Ngày nay; Anh phải sống (1934), Gánh hàng hoa (1934), Đời mưa gió (1936).
Khái Hƣng và Nhất Linh có điểm tƣơng đồng trong sáng tác viết về ngƣời phụ nữ. Ngƣời phụ nữ trong những hình ảnh chân thực về tình yêu, hạnh phúc đích thực trong cuộc sống trong gia đình. Khái Hƣng, Nhất Linh đã phác họa bức tranh sống và thực trong giai đoạn thực dân và phong kiến nhằm phơi bầy cái xấu xa, lạc hậu, lên án đầu óc ích kỷ, vụ lợi, cậy quyền cậy thế. đã hãm hại chà đạp tình yêu, nhân phẩm, cuộc sống của tha nhân và ngay chính ngƣời thân thuộc.
Ca ngợi tinh thần tự chủ, tự lập, đề cao phẩm cách 16 của ngƣời phụ nữ trong sinh hoạt gia đình và xã hội; tôn trọng đời sống riêng tƣ, tình cảm cá nhân, lòng vị tha và nhân ái. Quan tâm hơn cả đền ngƣời phụ nữ, hai tác giả trên đã từng đƣa ra vấn nạn, hình ảnh “ngƣời con gái đẹp” trong thảm cảnh “gia đình”. Làm sao dung hòa, giải thoát cuộc sống, tình yêu. cho thích nghi, phải đạo, có tình có lý.
Sự thận trọng, cân nhắc, đắn đo, suy ngẫm đó cho thấy tinh thần trách nhiệm và ý thức sáng tạo của ngƣời cầm bút. Tuy nhiên, những ngƣời phụ nữ mà Nhất Linh, Khái Hƣng đề cập đến thƣờng là những phụ nữ trong xã hội tƣ sản thành thị. Họ không bị ám ảnh bởi nỗi lo cơm áo gạo tiền nhƣ những ngƣời phụ nữ nông dân trong văn học hiện thực phê phán. Ngƣời phụ nữ trong văn học lãng mạn của hai tác giá trên có điểm chung là những ngƣời đẹp, sống trong thời điểm khi mà những quan điểm tƣ tƣởng phong kiến kìm nén ngƣời phụ nữ đã trở thành lỗi thời, lạc hậu.
Ngƣời phụ nữ bắt đầu vƣơn lên với khái niệm “tự do”, “bình đẳng”, “công bằng”. Họ đấu tranh trong tình yêu, cố gắng sống cuộc sống của riêng mình. Viết theo xu hƣớng lãng mạn, những ngƣời phụ nữ ấy dù là gái quê hay gái thành thị đều rất đẹp. Họ sẵn sàng hy sinh, từ bỏ tất cả để chọn lấy tình yêu.
Họ coi tình yêu là cái đích hƣớng tới. Do đó, kết thúc mỗi câu chuyện thƣờng là cái chết cho sự giải thoát, hoặc là cái kết thúc có hậu (nhƣng lại không có thực). Nói nhƣ Hồ Sĩ Hiệp trong Khái Hưng và Thạch Lam “Nhất Linh chủ trƣơng giải phóng ngƣời phụ nữ khỏi chế độ đại gia đình, tránh cho phụ nữ nỗi tình duyên ép buộc, cảnh mẹ chồng nàng dâu” (11, 88) “Nhất Linh giải phóng cho ngƣời phụ nữ góa bụa khỏi cảnh đạo đức giả của chế độ phong kiến”. (11, 89) Song song với trào lƣu lãng mạn Tự Lực văn đoàn là trào lƣu văn học hiện thực phê phán.
Những tiền đề xã hội giai đoạn 1930 – 1945 đã làm xuất hiện trên đàn văn học công khai một dòng văn học hiện thực phê phán, nhằm đáp ứng một 17 phần những yêu cầu cơ bản của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc lúc bấy giờ. Các nhà văn tiến bộ, bạn đƣờng của giai cấp công nhân, nhƣ Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nam Cao và cả Nhƣ Phong, Học Phi, Lê Văn Hiến,.đã sử dụng chủ nghĩa hiện thực phê phán nhƣ vũ khí chiến đấu. Văn học hiện thực phê phán không chỉ đáp ứng những yêu cầu của cuộc đấu tranh xã hội trong một thời kỳ lịch sử sôi động mà còn phản ảnh quá trình vận động của các hệ tƣ tƣởng, sự tác động qua của các hình thái ý thức kiến trúc thƣợng tầng. Văn học hiện thực phê phán vừa kế thừa và phát triển truyền thống văn học hiện thực chủ nghĩa trong các thế kỷ trƣớc, đặc biệt là thời kỳ cận đại, vừa khắc phục những nhƣợc điểm còn tồn tại trong thế giới quan và phƣơng pháp biểu hiện của các nhà văn trong quá khứ.
Những năm 30 của thế kỷ 20 là thời kì hình thành và phát triển mạnh mẽ của văn học hiện thực phê phán Việt Nam. Nhìn chung có thể tạm chia nhỏ thành ba thời kì nhỏ: 1930 – 1935, 1936 – 1939, 1940 – 1945. Thời kì đầu, khủng hoảng khinh tế và phong trào cách mạng tạm lắng xuống, khuynh hƣớng lãng mạn tiêu cực xuất hiện và chiếm ƣu thế trên đàn văn học công khai. Tuy nhiên, tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Tam Lang vẫn lần lƣợt ra đời khẳng định vị trí của văn học hiện thực phê phán.
Tuy nhiên, văn học hiện thực phê phán thời kì này, trong một số trƣờng hợp, chỉ phản ánh những nét cục bộ, những hện tƣợng nổi lên trên bề mặt của xã hội mà chƣa nêu lên đƣợc những vấn đề cơ bản, những vấn đề có tầm khái quát của thời đại, chƣa tập trung vào những vấn đề có tầm khái quát của thời đại. Bƣớc sang thời kì mặt trận dân chủ, văn học hiện thực phê phán phát triển rực rỡ hơn bao giờ hết. Lực lƣợng sáng tác đông đảo hơn bao giờ hết. Ngoài các tác giả đã sáng tác từ trƣớc đó, còn có thêm Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Lạp, Bùi Huy Phồn, Mạnh Phú Tƣ,.