mở đầu cho công cuộc khẳng định tên tuổi của Thiền Tông trong đời sống sinh hoạt tôn giáo trên đất nƣớc Trung Hoa. Giai đoạn 2: Thiền Tông Trung Quốc dƣới thời các đệ tử của Thần Tú và Huệ Năng cùng sự đấu tranh mạnh mẽ giữa các Thiền phái Tạo sức ảnh hƣởng mạnh mẽ nhất trong sự phát triển của Thiền Tông giai đoạn này chính là Tào Khê Huệ Năng, Ngọc Tuyền Thần Tú. Cả hai đều là đệ tử ƣu tú của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Nhƣng Thiền học của hai vị lại không giống nhau.
Chính vì vậy mà hai vị đệ tử này đã chia Thiền Tông lúc bấy giờ thành hai phái: một phái phát triển ở miền Nam Trung Quốc, chủ trƣơng “đốn tu, đốn ngộ”, Hồ Nam và Giang Tây làm trung tâm để để truyền bá Thiền pháp gọi là Nam Tông đứng đầu là Huệ Năng. Phái còn lại phát triển ở miền Bắc gọi là Bắc Tông do Thần Tú đứng đầu, chủ trƣơng “tiệm tu, tiệm ngộ”, chọn thành Trƣờng An và Lạc Dƣơng làm trung tâm để phát triển. Một nhân vật khác cũng khá quan trọng trong giai đoạn này, đó chính là Hà Trạch Thần Hội. Sau khi Thiền Tông đƣợc chia thành hai phái Bắc tông và Nam tông thì phái Bắc tông phát triển một cách nhanh chóng còn phái Nam tông thì có vẻ lép vế hơn khi chỉ lƣu hành đƣợc ở vùng Lĩnh Nam.
Thần Hội chủ trƣơng rằng Thần Tú chỉ là một nhánh phụ (bàng hệ), còn Huệ Năng mới thực sự là ngƣời tiếp nối giáo nghĩa của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Sau đó, ngài Thần Hội ra sức để chính thống hóa Huệ Năng. Nhờ các hoạt động nhằm chính thống hóa Huệ Năng mà phái Nam Tông dần có đƣợc chỗ đứng ở khu vực phía Bắc.50-51] Và tiếp theo đó là một giai đoạn phát triển rực rỡ của Thiền phái Nam Tông. Thiền phái Nam Tông khởi nguồn từ Huệ Năng, đƣợc Thần Hội kế thừa đã phát triển nhƣ một ngọn đuốc chói sáng, nhất là trong đời nhà Đƣờng, đầu đời nhà Tống.
Bên cạnh đó, những đệ tử khác của Hoằng Nhẫn cũng thành lập một số tông phái riêng nhƣ Ngƣu Đầu Tông, Tịnh Chúng Tông, Bảo Đƣờng Tông… Trong những tông phái này thì Ngƣu Đầu Tông là nổi bật hơn cả. Giai đoạn đầu thế kỷ thứ 8, Bắc Tông, Nam Tông và Ngƣu Đầu Tông đƣợc xem là ba tông phái tiêu biểu nhất và chúng đã 16 tạo ra một thế chân vạc cho Thiền Tông. Nhƣng chẳng bao lâu sau thì cả Nam Tông và Bắc Tông cùng suy yếu. Cũng từ đó, Ngƣu Đầu Tông vốn chỉ đƣợc xem là “một chú thích cuối trang” [15, Tr.161] nay đã có cơ hội để lên ngôi, đặc biệt là giai đoạn nửa sau thế kỷ thứ VIII.
Nhƣ vậy, nếu điểm đáng chú ý trong giai đoạn một là sự ra đời của Pháp môn Đông Sơn thì trong giai đoạn 2 này, đó chính là sự xuất hiện, phát triển, cạnh tranh và cuối cùng là sự suy vong của một số tông phái nhƣ Bắc Tông, Nam Tông, Tịnh Chúng Tông, Bảo Đƣờng Tông hay sự đang lên đà của Ngƣu Đầu Tông. Những chuyển biến đó đƣợc xem là những động thái tích cực để đƣa Thiền Tông đến sự phát triển bền vững hơn. Giai Đoạn 3: Thiền Tông dƣới thời Mã Tổ Đạo Nhất và Thạch Đầu Hy Thiên đến thời Nguyên Nhƣ đã đề cập, sau khi hai Thiền phái Bắc Tông và Nam Tông đều bị suy thoái thì Ngƣu Đầu Tông vƣơn lên phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, sự phát triển đó cũng không đƣợc lâu dài bởi sự xuất hiện của Mã Tổ Đạo Nhất và Thạch Đầu Hy Thiên.
Mã Tổ Đạo Nhất và Thạch Đầu Hy Thiên cùng chấn hƣng lại dòng Thiền Nam Tông. Tuy nhiên Mã Tổ Đạo Nhất đã sớm gây đƣợc tiếng vang còn Thạch Đầu Hy Thiên thì lại không đƣợc chú ý lắm. Mã Tổ Đạo Nhất đề xƣớng đƣợc một hệ tƣ tƣởng thiền độc đáo “Bình thƣờng tâm thị đạo”. Theo đó, ông chỉ yêu cầu những ngƣời theo đạo triệt để giữ cái tâm bình thƣờng chân thật.
Sau này, chƣ đệ tử của ngài gọi tƣ tƣởng Thiền mà ngài đề xƣớng là Mã Tổ Thiền và đặt tên môn phái là Hồng Châu Tông.71-72] Còn dòng Thiền mà Thạch Đầu Hy Thiên truyền bá đƣợc các đệ tử đặt tên môn phái là phái Thạch Đầu tông. Tƣ tƣởng của Mã Tổ đề xƣớng quả thật là một tƣ tƣởng mới mẻ. Tuy nhiên sự mới mẻ đó lại phù hợp với tâm lý chuộng lối suy nghĩ thực tế của con ngƣời Trung Quốc lúc Tuy mang hai tên gọi khác nhau là Hồng Châu Tông và Thạch Đầu Tông nhƣng giữa hai tông phái này lại có sự giao lƣu qua lại với nhau, giáo lý cũng có nhiều điểm tƣơng đồng, về bản chất hai dòng thiền này cũng chính là dòng Thiền Nam Tông mà Huệ Năng sáng lập ra. Chỉ có điều, tƣ tƣởng của hai dòng thiền này có đôi chút tiến bộ hơn, hợp thời hơn.
Thiền pháp của hai ngài so với Thiền pháp của ngài Huệ Năng và 17 ngài Thần Hội thì rõ ràng, linh hoạt, đa biến hơn, đơn giản ngắn gọn hơn, sáng tạo ra các phƣơng pháp thiền cơ ứng dụng nhƣ khán thoại thiền, mặc chiếu thiền… [10] Thạch Đầu Tông và Hồng Châu Tông không chỉ giao lƣu qua lại lẫn nhau mà còn giao lƣu rộng rãi với các tông phái khác, đặc biệt là với Ngƣu Đầu Tông. Việc giao lƣu này một mặt đã khiến cho phái Ngƣu Đầu từ một tông phái đầy hƣng thịnh nay đành chịu thế hạ phong trƣớc hai tông phái khá mới mẻ, nhƣng mặt khác lại làm cho hệ tƣ tƣởng của phái của hai phái Hồng Châu và Thạch Đầu mang màu sắc Lão Trang từ phái Ngƣu Đầu. Từ giữa thế kỷ thứ 9 trở về sau, hầu nhƣ không còn thấy vết tích của các tông phái giai đoạn đầu nhƣ Bảo Đƣờng Tông, Tịnh Chúng Tông, Ngƣu Đầu Tông…. Chỉ còn Hồng Châu Tông và Thạch Đầu Tông viết tiếp trang sử của Thiền Tông.
Năm Hội Xƣơng thứ 2 (năm 842), phong trào “phá Phật” một lần nữa lại xuất hiện do Đƣờng Vũ Tông dấy lên. Tuy nhiên, Thiền Tông, không chỉ không bị suy thoái mà còn gây dựng đƣợc cơ sở và phát triển rộng hơn nữa. Đƣợc nhƣ vậy là nhờ Thiền Tông không dựa kinh điển để truyền thụ mà chủ yếu hƣớng tới hợp nhất Thiền với sinh hoạt đời sống hằng ngày nên cho dù pháp nạn có xảy ra hay kinh điển có bị thất lạc đi nữa thì sự truyền thừa của Thiền Tông cũng không bị đứt đoạn. Đồng thời, từ Mã Tổ trở đi đã mở đƣờng cho lối tu Thiền phản ánh trung thành đƣợc cá tính vá lối sống của mỗi thiền tăng.
Với lối tu thiền đó, cá tính của ngƣời tu đƣợc phản ánh ngay trong lối tu nên chỉ cần một khoảng thời gian ngắn là đã có thể phát huy đƣợc khả năng của mình. Vì lẽ đó, nên số ngƣời chọn thiền để tu tập ngày càng đông, và ngày càng xuất hiện nhiều nhân tài. Những nhân tài đó đã giúp nối dài hệ phả Thiền Tông với 5 tông phái mới là Lâm Tế Tông, Quy Ngƣỡng Tông, Tào Động Tông, Vân Môn Tông và Pháp Nhãn Tông gọi là “Ngũ gia”. Đặc biệt, bên cạnh phái Hồng Châu – tông phái chính do ngài lập ra thì trong giai đoạn này, ngày cùng với Bạch Ngọc cƣ sĩ còn phát triển một môn phái nữa, đó là phái Phật Đƣờng.
Phái Phật Đƣờng là một môn phái khá kín tiếng trong đời sống sinh hoạt tôn giáo. Tuy cũng xây dựng đƣợc một số lƣợng lớn thiền viện và cũng phân chia thành nhiều chi phái nhƣng có rất ít tài liệu nhắc đến môn phái này. Mãi cho đến khi phong trào “phản Thanh phục Minh” bùng nổ thì hệ thống tƣ tƣởng của phái Phật Đƣờng đã trở thành nền tảng để hình thành một đạo mới. Đó là đạo Minh Sƣ.
Sau đó, 18 khi phong trào “phản Thanh phục Minh” kết thúc thì đạo Minh Sƣ đã vƣợt khỏi ra khỏi vùng đất Trung Hoa và lan rộng ra các nƣớc láng giềng trong đó có Việt Nam. Và trên mảnh đất Việt Nam, đạo Minh Sƣ đã có điều kiện viết tiếp trang sử của nó cho đến ngày hôm nay. Nhƣ vậy, đến giai đoạn này, Thiền Tông vẫn chứng tỏ đƣợc sự phát triển không ngừng của mình trong đời sống tinh thần của con ngƣời Trung Quốc. Sự phát triển không ngừng đó đƣợc thể hiện bởi sự vƣơn lên của hai tông phái mới là Hồng Châu và Thạch Đầu.
Và sau đó là sự ra đời của “ngũ gia thất tông” đã xóa đi vết tích của các tông phái buổi đầu và chiếm lĩnh hết thiền giới lúc bấy giờ. Vai trò cũng nhƣ công lao của Mã Tổ Đạo Nhất đối với Thiền Tông là vô cùng to lớn. Ngài đã tạo cho Thiền tông những bƣớc tiến vững chắc. Giai đoạn 4: Thiền Tông Trung Quốc từ đời Nguyên đến đời Thanh Trong giai đoạn đầu đời Nguyên, Thiền Tông vẫn giữ đƣợc địa vị của mình trong đời sống tinh thần của nhân dân Trung Hoa.
Họ chú trọng các tƣ tƣởng nhƣ “Thiền Tịnh song tu”, “Giáo Thiền nhất trí” hay “Tam Giáo nhất trí”. Nhờ vậy mà các tƣ tƣởng này vốn bắt nguồn từ thời Ngũ Đại, đƣợc khai triển dƣới đời Tống và nay đã đƣợc quảng bá vào nhà Nguyên.163] Đến cuối đời Tống, trong “ngũ gia” chỉ còn lại Lâm Tế Tông và Tào Động Tông. Sang đến triều Nguyên, hai tông phái này lại tiếp tục khẳng định đƣợc sự lớn mạnh của mình. Những thiền tăng danh tiếng thời Nguyên phần lớn thuộc tông Lâm Tế.
Trong khi tông Lâm Tế phát triển mạnh ở nƣớc nhà thì tông Tào Động lại có sự giao lƣu và phát triển mạnh mẽ tại Nhật Bàn, một số tăng ngƣời Nhật theo tông Tào Động học đạo, ngƣợc lại, một số đệ tử của Tông Tào cũng đến Nhật xây dựng môn phái riêng.160] Dƣới triều Minh, tuy có phong trào bài Phật của Nho gia bùng nổ làm ảnh hƣởng khá lớn đến Phât giáo nhƣng Thiền tông vẫn giữ đƣợc vị trí của mình, khẳng định mình là một phần trong đời sống tinh thần cũng nhƣ trên lĩnh vực văn hóa văn học. Nhƣng sang đến đời Thanh thì vị trí của Thiền Tông đã không còn nhƣ xƣa. Các vua nhà Thanh thi hành những chính sách cấm đoán đối với Phật giáo nhƣ không cho xây thêm chùa, không cho tăng lữ bố giáo ngoài phố, không cho đàn bà trẻ 19 em đi lễ Phật. Do đó, Phật giáo nói chung và Thiền tông nói riêng càng ngày càng lâm vào bƣớc đƣờng cùng.192-193] Hai tông Lâm Tế và Tào Động tuy vẫn duy trì đƣợc đến giai đoạn này nhƣng hệ phổ ngày càng bị thu hẹp, đa phần các Thiền Tăng đều chọn con đƣờng ra hải ngoại để thành lập Thiền phái riêng.