Chương I: Tổng quan nghiên cứu Cảm xúc tức giận – Nét tức giận Các triết gia và nhà tư tưởng vĩ đại như Aristotle, Seneca và Darwin đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu về cơn giận, nó vừa là điều kiện cần để tồn tại vừa tiềm ẩn nhiều vấn đề nguy cơ (Power & Dalgleish, 2016). Tức giận được xem như một cảm xúc cơ bản khơi gợi lên khi phản ứng với sự đau khổ, khó chịu về thể chất hoặc nỗi thất vọng (Panksep & Biven, 2012). Mặc dù có tính phổ quát trong đời sống và thường gặp trong các vấn đề lâm sàng nhưng tức giận vẫn là một phạm trù phức tạp và khó để định nghĩa (DiGiuseppe & Tafrate, 2007). Do đó, hiện tại vẫn còn khá nhiều mâu thuẫn trong các lý thuyết hay tài liệu về sự tức giận, về nguồn gốc và biểu hiện của cơn giận.
Những yếu tố liên quan đến tức giận cũng hiện diện trong các tiêu chuẩn chẩn đoán như Rối loạn chống đối chống đối (ODD), Rối loạn bùng phát gián đoạn (IED) hay Rối loạn mất điều chỉnh tâm trạng muốn gây rối (DMDD). Mặc dù sự tức giận được xem xét trong các chẩn đoán trên nhưng DiGuiseppe và Tafrate (2007) vẫn thấy rằng tức giận là một “cảm xúc bị bỏ quên” vì trọng tâm của những tiêu chí này thường là hành vi bạo lực theo sau cơn tức giận, hơn là chính cảm xúc tức giận. Trong đời sống thường ngày, tức giận, thù địch hay bạo lực cũng là những khái niệm hay bị nhầm lẫn và chồng chéo lẫn nhau. Vì vậy, nhiều người lầm tưởng rằng tức giận luôn là một cảm xúc xấu và thể hiện sự tức giận là không ổn.
Trên thực tế, tức giận là một phản ứng bình thường đối với các sự kiện hàng ngày có khả năng trở thành mối đe dọa thực sự. Sự tức giận có thể là động lực tích cực thúc đẩy hành động. Trong khi sự thù địch là trạng thái luôn sẵn sàng 6 chiến đấu bất cứ lúc nào. Người thù địch thường bướng bỉnh, nóng nảy, muốn đánh ai đó hoặc phá huỷ vật gì đó.
Cuối cùng, bạo lực là sự đe doạ cả bằng lời nói và những tổn hại về tinh thần, chẳng hạn như lạm dụng thể chất, lời nói hay tình dục, bạo lực gia đình, lạm dụng trẻ em hoặc người già (Healthwise, 2020). Nói về các lý thuyết liên quan đến cảm xúc tức giận, Paul Ekman là người tiên phong trong việc nghiên cứu về cảm xúc và nổi bật là lý thuyết về các cảm xúc cơ bản phổ quát, trong đó có cảm xúc tức giận. Theo Ekman (2011), tức giận là phản ứng đối với sự can thiệp vào việc theo đuổi mục tiêu của chúng ta hoặc khi ai đó cố gắng làm hại chúng ta hoặc làm hại đến đến người mà chúng ta quan tâm về mặt thể chất và tinh thần. Một cộng sự của Ekman, Izard (2007) đã cho rằng tức giận là một cảm xúc tiêu cực mà con người trải nghiệm trong cuộc sống hàng ngày.
Để đối phó tức thời với các mối đe doạ và trở ngại, tức giận giúp điều chỉnh quá trình nhận thức để phát hiện nguy hiểm một cách nhanh chóng và phản ứng với nó. Tuy nhiên, khác với những cảm xúc tiêu cực khác đặc trưng bởi mức kích thích thấp và khoái cảm thấp, tức giận lại có mức kích thích cao và khoái cảm thấp (Russell & Barrett, 1999). Theo trường phái trị liệu Nhận thức – Hành vi, Beck (2015) mô tả sự tức giận là một phản ứng phóng đại đối với những suy nghĩ tự động về việc bị đe dọa hoặc bị hạ thấp giá trị, vốn bắt nguồn từ những niềm tin phóng đại sâu xa. Cotterell (2017) cũng cho rằng cảm xúc tức giận được xây dựng trên những mong đợi.
Mỗi khi có khoảng cách giữa kỳ vọng và thực tế, tức giận chen vào để lấp đầy nó. Trong nỗ lực thấu hiểu và làm rõ hơn các khía cạnh khác nhau của sự tức giận, Spielberger (1988) đã đưa ra lý thuyết về trạng thái-nét tức giận (state-trait anger). Trong đó, trạng thái tức giận được xem là một trạng thái hoặc tình trạng cảm xúc xác định bởi những cảm giác chủ quan với cường độ khác nhau, từ kích thích nhẹ hoặc khó chịu đến sự giận dữ và cơn 7 thịnh nộ dữ dội. Nét tức giận được định nghĩa theo sự khác biệt của từng cá nhân trong cách nhìn nhận những tình huống gặp phải là gây khó chịu hoặc bực bội cũng như xu hướng phản ứng với những tình huống đó ở mức độ cao hay thấp trong trạng thái tức giận.
Những người có nét tức giận cao trải qua trạng thái tức giận thường xuyên hơn và với cường độ mãnh liệt hơn những cá nhân có nét tức giận thấp, họ thường nhanh chóng tức giận, đặc biệt khi hành động của họ không được đánh giá cao hoặc bị chỉ trích công khai. Họ dễ bùng nổ hơn, dễ nổi nóng và lên cơn thịnh nộ hơn. Họ không cố gắng ngăn cản hoặc kiểm soát biểu hiện của sự tức giận và do đó xác suất nổi giận của họ trong một tình huống nào đó cao hơn người bình thường. Bởi vì nó là một nét của tính cách, nét tức giận phản ánh phong cách phản ứng chung của cá nhân trong thời gian dài và ổn định trong các tình huống khác nhau (Deffenbacher, 1996).
Nét tức giận là yếu tố nền tảng để đánh giá xu hướng tức giận và cách bộc lộ cảm xúc của một người có dễ dàng hay không (Spielberger & cs., 1983), từ đó có thể dự đoán được trạng thái tức giận và hành vi gây hấn trong cuộc sống hàng ngày (Veenstral & cs. Các nghiên cứu cũng đưa ra dự báo của nét tức giận với các tình huống gây nguy hiểm trong cuộc sống như người có nét tức giận cao liên quan nhiều đến các vụ tai nạn xe cộ hơn (Deffenbacher & cs., 2016) và có xu hướng bạo hành thể chất với người phối ngẫu hơn (Stith & cs. Nói đến việc bộc lộ cảm xúc tức giận, Green & Murray (1975) cho rằng bộc lộ sự giận dữ bằng lời nói không có hiệu quả trong việc cải thiện sự kích động - trừ khi nó được kết hợp với việc diễn giải lại sự kiện kích thích. Sau đó, nghiên cứu về hình ảnh (Means & cs., 1987) nhận thấy rằng hình ảnh tâm trí giúp nâng cao hiệu quả của nhận thức bằng lời nói trong việc thay đổi tâm trạng khó chịu.
Như vậy có thể thấy rằng, hình ảnh của cảm xúc tức giận là một chủ đề đáng được xem xét. Bộc lộ cảm xúc qua trải nghiệm nghệ thuật và yếu tố hình thức trong sản phẩm nghệ thuật Rothschild (2000) cho rằng trải nghiệm cảm xúc ngày càng được tin rằng không được xử 8 lý thông qua ngôn ngữ và logic đơn thuần mà cần sử dụng các hoạt động thúc đẩy sự linh hoạt của bán cầu não phải, các hoạt động liên quan đến hình ảnh, chú ý đến các giác quan, mở ra các ký ức và tăng cường kết nối với các động lực cảm xúc. Do vậy, dù là hình ảnh trong tâm trí hay hình ảnh được vẽ trên giấy thì hình ảnh và sự hình thành hình ảnh đều quan trọng. Thông qua việc tạo nên hình ảnh, chủ thể được mời gọi điều chỉnh lại cách họ cảm thấy, phản ứng với một sự kiện hoặc trải nghiệm, đồng thời nỗ lực thay đổi cảm xúc và hành vi.
Tuy nhiên, khác với hình ảnh tinh thần, hình ảnh trong nghệ thuật cho phép cá nhân chủ động thử nghiệm hoặc diễn tập một sự thay đổi mà mình mong muốn thông qua các hoạ cụ; nó liên quan đến một đối tượng hữu hình có thể thay đổi về mặt vật lý (Malchiodi, 2012). Qua đó mở rộng phạm vi trải nghiệm của con người bằng cách tạo ra những trải nghiệm tương đương với những trải nghiệm đó. Đó là một lĩnh vực mà trải nghiệm đa dạng mà chủ thể có thể được lựa chọn và lặp lại theo ý muốn. Nhờ vậy, cá nhân cũng có thể giảm bớt sự gây hấn bởi vì có thể thay thế hoặc thăng hoa những thôi thúc này thông qua nghệ thuật (Kramer, 2000).
Sản phẩm nghệ thuật là cơ sở quan trọng trong quá trình trải nghiệm, nó phản ánh đời sống tinh thần của chủ thể. Nó cũng được xem là một công cụ hữu dụng cho nghiên cứu về bộc lộ cảm xúc vì những kỹ thuật vẽ trong việc tạo sản phẩm tự bản thân nó đã có tính bộc lộ (King & Kaimal, 2019) và tiến trình vẽ cho phép người tạo sản phẩm thể hiện cảm xúc của chính mình (Guseva, 2018; Reyna-Martinez & cs. Cảm xúc ý thức và vô thức đều có thể được hiểu, được thể hiện, được giao tiếp và được giải phóng thông qua nghệ thuật tạo hình (Kramer, 1975; Naumburg, 1966; Malchiodi, 2011). Trong sản phẩm nghệ thuật, bên cạnh nội dung, các yếu tố hình thức nghệ thuật như màu sắc, hình dáng, đường nét, bố cục cũng gợi lên nhiều ý nghĩa liên quan, thúc đẩy một tiếp cận toàn diện hơn bằng việc xem xét các mối quan hệ qua lại giữa sản phẩm nghệ thuật, nhìn xem 9 chúng và tạo ra chúng như thế nào.
Dưới góc nhìn nghệ thuật, các yếu tố hình thức là các bộ phận được sử dụng để tạo ra một sản phẩm nghệ thuật. Các yếu tố hình thức nghệ thuật bao gồm đường nét, hình dạng, không gian, hình thể, tông màu, kết cấu, hoa văn/khuôn mẫu, màu sắc và bố cục. Chúng được sử dụng phối hợp và cách chúng được sắp xếp trong một sản phẩm nghệ thuật sẽ quyết định sản phẩm đó được hoàn chỉnh như thế nào. Các nghệ sĩ thường xem xét từng yếu tố nghệ thuật một cách cẩn thận khi thức hiện tác phẩm nghệ thuật của họ (Ionescu, 2014).
Trong lĩnh vực tâm lý, có hai học thuyết nổi bật đề cập đến các yếu tố hình thức nghệ thuật đó là Liệu pháp bộc lộ tiếp diễn (Expressive Therapy Continuum – ETC) và Liệu pháp Gestalt. Trong đó ETC nhấn mạnh đến các yếu tố riêng biệt của TLNT, cung cấp một cách tiếp cận TLNT dựa trên các đặc điểm đa chiều của việc bộc lộ bằng hình ảnh. Đặc trưng của ETC là ba cấp độ xử lý thông tin hình ảnh trong việc sử dụng các phương tiện và kỹ thuật nghệ thuật để bộc lộ. Trình tự của ba cấp độ bao gồm: Cử động – Cảm giác, Suy nghĩ – Cảm xúc, Nhận thức – Biểu tượng, chúng phản ánh sự phát triển về mặt tinh thần cũng như các thể hiện qua hình ảnh trong quá trình xử lý thông tin từ đơn giản đến phức tạp hơn (Lusebrink, 2015).
Nói về lý thuyết Gestalt, từ “gestalt” trong tiếng Đức đã có nghĩa là “hình dạng” và lý thuyết này cũng tập trung vào tính năng động của hình dạng.