PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài và tính cấp thiết của việc nghiên cứu Ở Việt Nam, theo quan điểm của những Luật gia nói riêng và xã hội nói chung, khái niệm “pháp luật” hiện nay đƣợc thừa nhận là “hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí Nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ịch của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội”. Khi đề cập đến “pháp luật”, hầu hết các chuyên gia sử dụng lại khái niệm này hoặc đƣa ra một khái niệm với sự khác biệt nhìn chung là không đáng kể. Đối chiếu với thực tiễn pháp luật, khái niệm này là đúng với Việt Nam trƣớc đổi mới, khi mà pháp luật là quy định do cơ quan nhà nƣớc ban hành để công dân phải tuân theo; việc thực hiện pháp luật gắn liền với những cơ quan thanh tra, cảnh sát, nhà tù, …Nhƣng nhìn rộng hơn, các luật gia trên thế giới có khá nhiều quan niệm “pháp luật”, có những quan niệm tƣơng đồng nhƣng cũng có những quan niệm tƣơng đối khác biệt với khái niệm trên.
Một số quan niệm thậm chí hoàn toàn không có sự xuất hiện của nhà nƣớc hoặc “Kiến trúc thƣợng tầng” mà giống một quan điểm về nghề nghiệp; ví dụ nhƣ luật gia La mã Publius Iuventius Celsus Titus Aufidius Hoenius Severianus đƣa ra quan niệm “Ius est ars boni et aequi”, tạm dịch là “Pháp luật là nghệ thuật của điều thiện và lẽ công bằng”. Trên thực tế, nếu áp đặt khái niệm “pháp luật” hiện hành vào nhiều lĩnh vực pháp luật có thể nhận thấy một số điểm không còn phù hợp. Ví dụ lĩnh vực Công pháp quốc tế, pháp luật là những Điều ƣớc đƣợc các Nhà nƣớc thống nhất xây dựng nhằm ràng buộc chính các nhà nƣớc chứ không trực tiếp buộc xã hội phải chịu sự điều chỉnh. Nếu pháp luật là công cụ của giai cấp 1 z thống trị do nhà nƣớc ban hành để điều chỉnh xã hội hoặc là sự thừa nhận những quy phạm xã hội sẵn có theo ý chí chủ quan thì liệu có thể coi Công pháp quốc tế là luật? Đây không phải là một câu hỏi dễ trả lời với khái niệm nêu trên.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu hội nhập, hài hòa hóa về pháp luật là một trong những đòi hỏi bắt buộc.Hội nhập về pháp luật là một nhu cầu rất cấp thiết hiện nay khi mà Chính phủ Việt Nam đã ký kết không ít điều ƣớc quốc tế trong nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, thuế, hải quan,… và cả về tƣ pháp. Dù đã có rất nhiều nghiên cứu pháp luật nƣớc ngoài trong những lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, môi trƣờng,…, đặc biệt là pháp luật các nƣớc phƣơng tây đƣợc cho là phát triển, cách quan niệm của phƣơng tây về pháp luật nhƣ thế nào vẫn là một lĩnh vực hiếm khi đƣợc đề cập. Đề án đào tạo 2000 luật sƣ có khả năng tranh tụng ở các tòa án quốc tế đã có, nhƣng khác biệt trong cách quan niệm “pháp luật” của giới hành nghề luật phƣơng Tây so với nƣớc ta ngay từ đào tạo cao đẳng, đại học theo tác giả là một rào cản rất lớn trong công cuộc hoàn thành đề án nêu trên. Tác giả cho rằng, sự khác biệt từ quan niệm cơ bản này cần có những nghiên cứu khách quan và nghiêm túc, chỉ khi biết mình biết ngƣời, nƣớc ta mới có thể hội nhập chủ động và có hiệu quả với môi trƣờng pháp lý quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Với mong muốn hoàn thiện kiến thức pháp lý của bản thân, một phần từ mong muốn nghiên cứu, tìm hiểu thực tiễn lý luận về pháp luật ở các quốc gia khác để xác định chính xác hơn sự khác biệt về pháp luật của Việt Nam và các quốc gia trên thế giới, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Các quan niệm phổ biến về pháp luật trên thế giới” làm luận văn thạc sĩ. Mục tiêu nghiên cứu Về tổng thể, tác giả cho rằng mỗi quan niệm chỉ phản ánh một phần của những hiện tƣợng đƣợc coi là pháp luật hiện nay, việc đƣa ra một khái niệm để định hình toàn bộ hiện tƣợng sẽ không thể giải thích một cách thuyết phục nhiều lĩnh vực pháp luật. Vì vậy, mục đích nghiên cứu của luận văn này “làm rõ nội dung các quan niệm phổ biến về pháp luật trên thế giới trên cơ sở xác định nền tảng hình thành, phạm vi biểu hiện của các quan niệm và ý nghĩa của quan niệm trong nhận thức thực tiễn pháp luật”. Mục tiêu nghiên cứu trả lời các câu hỏi cụ thể sau: - Ý nghĩa của việc xác định thực tiễn phù hợp với quan niệm và giới thiệu sơ bộ về hiện tƣợng “pháp luật” trong thực tiễn (Chƣơng 1) - Các quan niệm pháp luật phổ biến và thực tiễn pháp luật tƣơng ứng với mỗi nhóm quan niệm? (Chƣơng 2) - Biểu hiện cụ thể của các quan niệm trong những thực tiễn mà tác giả đã lựa chọn? (Chƣơng 3, 4 và 5) - Một vài nét nổi bật về thành quả xây dựng pháp luật trên cơ sở tiếp thu truyền thống Xô-viết và pháp luật phƣơng Tây ở Việt Nam? (Chƣơng 6) 3.
Tính mới và tính đóng góp của đề tài Luận văn là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ thạc sĩ đề cập đến các quan niệm “pháp luật” khác nhau trên thế giới thông qua việc xác định thực tiễn phù hợp với quan niệm, một cách thức không phổ biến ở Việt Nam. Trong luận văn đề cập đến cả những quan niệm ít đƣợc phân tích và chứng minh nhƣng thƣờng đƣợc các luật gia phân tích rất cụ thể, vì vậy phạm vi nghiên cứu rộng hơn so với những nghiên cứu chỉ tập trung vào các học thuyết pháp lý. Phƣơng pháp nghiên cứu 3 z Về phƣơng pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phƣơng pháp giả thuyết. Trƣớc hết tác giả giới thiệu về thực tiễn pháp luật, sau đó nêu các quan niệm và đƣa ra giả thuyết về các cặp quan niệm – thực tiễn tƣơng ứng với nhau.
Sau khi hình thành nên những cặp quan niệm – thực tiễn, tác giả phân tích rõ về các biểu hiện của các quan niệm trên thực tiễn pháp luật cụ thể, qua đó đánh giá tính phù hợp của quan niệm với thực tiễn tƣơng ứng. Để triển khai phƣơng pháp này, Chƣơng 1 tác giả nêu định nghĩa “quan niệm”, ý nghĩa của việc xác định thực tiễn phù hợp với quan niệm trong việc nghiên cứu quan niệm và giới thiệu sơ bộ về pháp luật phƣơng Tây. Ở chƣơng 2 tác giả nêu một số quan niệm “pháp luật” phổ biến và thực hiện việc xác định thực tiễn pháp luật phù hợp với quan niệm. Tại các Chƣơng 3, 4 và 5 tác giả phân tích về đặc điểm của các hiện tƣợng “pháp luật” trên cơ sở hiểu biết cá nhân của tác giả và phân tích, đánh giá kỹ hơn về sự phù hợp của quan niệm với thực tiện.
Chƣơng 6 vận dụng kết quả nghiên cứu của các chƣơng trƣớc để làm rõ một vài hệ quá phát sinh do nhận thức thực tiễn từ cách quan niệm không phù hợp tại Việt Nam. Nhìn chung, phƣơng pháp sử dụng thực tiễn để phân tích quan niệm thay cho phân tích nội hàm của quan niệm là cách làm dành cho ngƣời đã nghiên cứu về hệ thống pháp luật trƣớc khi nghiên cứu về quan niệm. Đối với ngƣời tiếp cận thực tiễn từ các quan niệm thì tác giả cho rằng không nên sử dụng phƣơng pháp này. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Luận văn này không nhằm giải quyết các thực trạng mà tập trung xác định các thực tiễn pháp luật phù hợp với các nhóm quan niệm, vì vậy đối tƣợng nghiên cứu là một số quan niệm “pháp luật” phổ biến và những hiện tƣợng đƣợc coi là pháp luật ở La Mã thời cổ đại, Tây Âu, Trung Hoa, Việt 4 z Nam thời trung đại và trong nền luật học một số quốc gia Tây Âu ngày nay nhƣ Anh, Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Singapore.
“Quan niệm” trong luận văn này là những cách nhận thức tƣơng đối trực quan và ngắn gọn về hiện tƣợng pháp luật. Một số quan niệm đƣợc nghiên cứu có thể xuất phát từ một trƣờng phái luật học nhƣ trƣờng phái luật tự nhiên, trƣờng phái pháp luật lịch sử, tuy nhiên tác giả không đi sâu vào những quan điểm khác của các trƣờng phái nhƣ mục tiêu của pháp luật, vai trò của pháp luật, điều kiện để pháp luật có hiệu lực, đóng góp của các trƣờng phái … mà chỉ nêu cách các trƣờng phái đó hiểu “pháp luật” là gì. Về các thực tiễn pháp luật đƣợc nêu trong luận văn, tác giả không đi sâu phân tích các chế định, điều luật cụ thể mà chỉ tập trung nghiên cứu một cách tổng quát, các khía cạnh pháp luật chỉ phân tích chung đặc điểm của mỗi lĩnh vực. Việc trích dẫn quy phạm chỉ nhằm chứng minh, chứ không đi sâu phân tích chi tiết đặc điểm, nội hàm hoặc cách sử dụng của từng quy phạm.
Luận văn chủ yếu nghiên cứu mối liên hệ giữa các nhóm quan niệm với thực tiễn pháp luật thông qua việc tạo lập các nhóm quan niệm phù hợp với các thực tiễn pháp luật và phân tích biểu hiện của các quan niệm trong các thực tiễn pháp luật tƣơng ứng. - Từ ngữ trong luận văn: Để giới hạn phạm vi phân tích từng nội dung của luận văn, một số từ ngữ đƣợc tác giả sử dụng sẽ có ý nghĩa nhƣ sau: Trong luật văn này, “pháp luật” là cách viết để nói về định nghĩa, quan niệm, khái niệm của từ “pháp luật” hoặc là tổng hợp tiêu chí của một sự vật hiện tượng được coi là “pháp luật” theo những quan niệm. Cách viết pháp luật không có dấu “” là để chỉ tổng thể những hiện tượng thường được coi là pháp luật trên thực tế. 5 z Một số từ ngữ xuất hiện nhiều lần trong luận văn nhƣ Pháp luật Công quyền, Pháp luật giải quyết tranh chấp dân sự là cách tác giả gọi tên nhóm hiện tƣợng pháp luật do hiện tại vẫn chƣa có thuật ngữ tƣơng ứng.
Một số từ ngữ khác nhƣ Dịch vụ sự nghiệp công, Công pháp quốc tế, Luật công, Luật tư… là những thuật ngữ thông dụng hoặc đã đƣợc giải thích bởi các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, những khác biệt trong cách hiểu của tác giả sẽ đƣợc nêu cụ thể tại nội dung có sử dụng các từ ngữ này.