CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Ngoài nước Tuần hoàn thuỷ văn rừng được mô tả theo một trình tự nhất định, bắt đầu từ khi nước mưa đi vào hệ sinh thái, đến quá trình nước mưa bị giữ lại trên tán rừng, nước mưa lọt qua tán, nước mưa chảy men thân cây, nước mưa chảy tràn trên bề mặt đất, đến quá trình nước thấm xuống đất, bốc hơi nước vật lý từ đất, từ thảm mục, thoát hơi nước của thực vật để trở về khí quyển (Douglas, 1977). Nhìn chung, các quá trình trên chịu ảnh hưởng rõ nét của cấu trúc lớp thảm thực vật rừng, chế độ mưa, địa hình, đất. Quá trình thấm nước của đất là một trong những vấn đề được nghiên cứu sâu rộng trong lĩnh vực thủy văn học.
Theo lý luận phát sinh dòng chảy mặt, sự thấm nước của đất là chỉ thị cho khả năng của tầng điều tiết quan trọng trong tuần hoàn thủy văn rừng, sau khi nước mưa đi qua bầu khí quyển và lớp thảm thực vật che phủ. Sự thấm nước của đất có tác dụng rất quan trọng trong việc hình thành cơ chế phát sinh dòng chảy. Trên thế giới, công trình đầu tiên nghiên cứu về đặc trưng thấm nước của đất là của nhà bác học Darcy vào năm 1856 (Micheal Kasenov, 2001), ông đã đưa ra định luật có tên Định luật Darcy để tính lượng nước thấm vào đất theo phương trình: Q = K.h/l Trong đó: Q là lượng nước thấm (cm3), K là hệ số thấm (cm3), T là thời gian thấm (phút), h là độ chênh lệch áp lực cột nước ở đầu trên và đầu dưới của cột thấm, l là chiều dài đoạn đường thấm (cm). Đồng thời định luật còn được biểu thị bằng phương trình tốc độ thấm: -4- V = K.I Trong đó: v là tốc độ thấm (mm/giây, cm/phút, hoặc m/ngày đêm); I = h/l Trong định luật này ông đã khẳng định hệ số thấm phụ thuộc vào tính chất đất đồng thời phụ thuộc vào tính chất của chất lỏng (nước) – tức độ nhớt của chúng.
Mặt khác, độ nhớt nước lại phụ thuộc nhiệt độ và mức độ khoáng hóa. Như vậy, khi nhiệt độ giảm thì độ nhớt sẽ tăng dẫn đến giảm tốc độ thấm và ngược lại. Sau này, người ta nhận thấy rằng khi xác định tính thấm của đất trong những điều kiện nhiệt độ thay đổi thì không thể so sánh được. Do vậy, người ta quy về điều kiện chuẩn ở 100C bằng cách sử dụng “hệ số điều chỉnh nhiệt độ” của Hazen là (0,7 + 0,03 t) khi tính hệ số thấm.
Hệ số thấm theo nhiệt độ điều chỉnh được tính theo công thức sau: K10 = Kt / (0,7+0,03t) Trong đó: K10 là hệ số thấm ở điều kiện 100C, Kt là hệ số thấm thời điểm t, t là nhiệt độ nước sử dụng khi xác định. Đến năm 1937, Vusoski (Nguyễn Thị Bích Ngọc, 2005) nhà bác học Nga đã xây dựng công thức tính lượng nước thấm xuống mặt đất: W = P0 – (E0 + T + S) Trong đó: W là lượng nước thấm xuống, P0 là nước mưa trung bình năm tại khu vực nghiên cứu, E0 là lượng nước bốc hơi lấy từ trạm khí tượng, T là lượng nước thoát hơi của thực vật, S là lượng nước chảy trên mặt đất. -5- Có rất nhiều mô hình thấm nước của đất dựa vào việc đơn giản hóa quá trình vật lý và mô hình kinh nghiệm, có thể liệt kê các mô hình thấm nước đã được xây dựng như: STT Mô hình Năm STT Mô hình Năm 1 Green and Ampt 1911 11 Smith 1972 2 Kostiakov 1932 12 Dooge 1973 3 Horton 1933 13 Morel – Seytoux and Khanji 1975 4 Philip 1957 14 Partange 1971 5 Holtan 1961 15 Collis – George 1977 6 Overton 1964 16 Smith and Parlange 1978 Hydrograph model (Dunin, 7 1969 17 Zhao 1981 1969) 8 Modified Kostiakov - 18 HEC 1981 9 Mein and Larson 1971 19 Simgh and Yu 1990 10 Snyder 1971 20 Mishra and Singh 2002 (American Society of Engineers, 1996) Đáng chú ý là mô hình thấm của Green – Ampt, Horton, Philip, Smith, Smith and Parlange. Mô hình Green – Ampt (William A.
Jury and Robert Horton, 2004) được xây dựng trên cơ sở của định luật Darcy. Tác giả xây dựng công thức tính tỷ lệ thấm: f= K (change in potential)/ (distance) hoặc f = f = K(d + Lf + Ψ)/Lf Trong đó: f là tốc độ thấm, f biến đổi theo thời gian khi mà front nước thấm tiến sâu dần vào trong đất. K là độ dẫn thủy của phần đất đã được thấm nước trong phẫu diện đất Lf là độ sâu của front nước thấm -6- Ψ là áp suất thủy đầu (áp suất làm ướt khả năng làm ướt, sức làm ướt) tại đầu của front nước thấm d là độ sâu lớp nước trên bề mặt Horton (1933) (Surendra Kumar Mishra and Vijay P.Singh, 2003) lại dựa vào tốc độ thấm khởi đầu, ổn định xây dựng mô hình thấm nước. Công thức: f = fc + (f0 – fc)e-kt Trong đó: f là tốc độ thấm tại thời điểm t, fc là tốc độ thấm ổn định, f0 là tốc độ thấm ban đầu, k là hằng số, t là thời gian (phút).
Philip (1957) (American Society of Engineers, 1996) lại sử dụng tỷ lệ hút nước và tốc độ thấm nước ổn định rồi thiết lập mô hình thấm nước: i = 0,5.t-1/2 + A hoặc i = St1/2 + At Trong đó: i là tốc độ thấm tại thời điểm t (m/s), t (giây), S là tỷ lệ hút nước, A hệ số dẫn thủy bão hòa (m/s) – thường là ước tính. Smith (1972) (American Society of Engineers, 1996) đã xây dựng công thức tính tốc độ thấm: f = fc + A (t – to)- α f là tốc độ thấm nước tại thời điểm t; fc là tốc độ thấm nước ổn định; A, t0 và α là những chỉ số kinh nghiệm, nó phụ thuộc vào từng loại đất và lượng mưa. Năm 1978, Smith và Parlange (American Society of Engineers, 1996) thiết lập mô hình thấm cải tiến: f = K [C0/KF] Trong đó: f là tốc độ thấm tại thời điểm t (cm/h); F là tổng lượng thấm (cm); K là hệ số dẫn thủy (cm/h). Những mô hình này đã đạt được những thành công khá lớn.
Đã mô phỏng -7- được sự vận động của nước trong đất nông nghiệp và thủy văn lưu vực đất nông nghiệp (American Society of Engineers, 1996). Tuy nhiên, khi ứng dụng trong lưu vực rừng lại gây ra những thách thức nghiêm trọng. Vì rằng, khi nước thấm vào trong đất, vận động của nước chịu sự khống chế của trọng lực do lực hấp dẫn địa cầu sinh ra và lực mao quản do sự tiếp xúc giữa nước và hạt đất (Baver, 1937), do sự biến đổi của kết cấu đất và thành phần cơ giới đất, dẫn đến sự rối loạn đan chéo vào nhau trong con đường vận động của nước trong đất. Như vậy, việc ứng dụng định luật Darcy cho sự vận động của nước trong đất rừng để nghiên cứu định lượng và dự báo, sẽ dẫn đến những sai lệch tương đối lớn so với tình hình thực tế, bởi phạm vi sử dụng của định luật Darcy chỉ cho sự vận động của dòng chảy trong một tầng đất.
Từ góc độ ảnh hưởng của rừng đối với tuần hoàn thủy văn mà xét, do trong hoàn cảnh của rừng có sự phân giải liên tục của thảm mục, hoạt động của rễ cây, hoạt động phong phú của động vật, dẫn đến vận động của dòng chảy theo đường ống trong các lỗ hổng tương đối lớn (Zakharop, 1981). Theo Dunne (1978a), đất rừng có tốc độ thấm nước lớn hơn nhiều lần so với đất dưới các dạng thảm thực vật khác, tốc độ thấm nước ổn định của rừng có thể đạt 80mm/giờ trở lên. Tốc độ thấm ổn định của một số loại đất (Thomas Dunne, Luna B Leopold, 1978b) Loại đất Đất trống Đất hoa màu Đất trồng cỏ nghèo Đất trồng cỏ tốt Đất rừng Kết cấu thô 8 13 15 25 76 vừa, cát, sỏi Kết cấu mịn 1 2 2 5 6 tới rất mịn Kết quả nghiên cứu của Diêu Hoa Hạ (1989), Thẩm Băng và Nông Tấn (1992) và Trần Huệ Tuyền (1994) cho thấy đất rừng có độ hổng mao quản lớn thì tốc độ thấm nước sẽ tăng lên và có thể mô phỏng quá trình thấm nước xuống -8- đất rừng theo mô hình Phillip. Cũng theo quan điểm này, nghiên cứu của Douglass (1977), Pritchett (1979) cũng khẳng định đất rừng tự nhiên có khả năng thấm nước cao và ít khi xuất hiện dòng chảy mặt.
Ở Trung Quốc, các nhà khoa học thường dùng lượng nước bão hòa các lỗ hổng ngoài mao quản trong đất rừng để tính toán lượng nước thấm xuống đất. Vu Chí Dân và Vương Lễ Tiên (2001) cho rằng tốc độ thấm cùng với hàm lượng mùn, độ dày tầng đất, độ xốp, cấu tượng đất quyết định tới lượng giữ nước của đất rừng. Theo kết quả nghiên cứu này, mỗi hecta đất rừng có thể tích giữ được lượng nước 641 - 679 tấn/năm. Hisskink (1990) nghiên cứu tính thấm của đất có chứa nhiều nguyên tố Natri, cho rằng, có thể do sự trao đổi Bazơ đã làm thay đổi tính thấm nước và sự có mặt trong đất các loại muối dễ tan với số lượng lớn đã làm cho tính thấm đất bị ảnh hưởng.
Hiskink còn cho rằng sự trao đổi Bazơ và sự thay đổi tính thấm có quan hệ với nhau, vì Natri đã thay thế các Bazơ trao đổi vốn có trong đất (chủ yếu là Ca++) (Nguyễn Thị Bích Ngọc, 2005). Nghiên cứu của Derness (1976) (Nguyễn Thị Bích Ngọc, 2005) cho rằng khả năng thấm nước của đất rừng luôn chịu ảnh hưởng lớn của lửa rừng. Lửa đốt trụi lớp thảm thực vật trên bề mặt đất, tạo ra một lớp tro lớn gây vít các khe hở, lỗ hổng, tạo ra lớp đất khó thấm nước. Theo kết quả nghiên cứu này, đốt lửa làm cho lớp đất mặt từ 2,5 – 30 cm giảm rõ rệt độ thấm nước và làm tăng sự bay hơi bề mặt, lớp đất mặt trở nên khô, độ xốp của đất giảm còn kết cấu của đất bị phá vỡ.
-9- Nhà khoa học Đức Volni tiến hành nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến xói mòn đất đã khẳng định: đặc điểm thấm, lượng mưa, đặc điểm cấu trúc của lớp phủ thực vật, đặc điểm giữ nước cùng với đặc điểm địa hình quyết định tới sự hình thành dòng chảy bề mặt. Tuy nhiên, những kết luận phần lớn là định tính, chưa khái quát thành quy luật (Hudson, 1981). Williams (1998) đã chỉ ra rằng tỷ lệ nước thấm vào đất phụ thuộc vào các yếu tố lượng mưa, thời gian mưa, tính chất vật lý đất, độ dốc, trạng thái bề mặt (thảm thực vật, mức độ ghồ ghề của bề mặt. Tuy nhiên, tác giả chưa xây dựng phương trình tương quan thể hiện mối liên hệ giữa các yếu tố này tới lượng nước thấm.