Chương 1. Lý thuyết cơ sở Chương 2. Khảo sát sự tạo ra trạng thái đan rối trong bộ nối Kerr tương tác tuyến tính được bơm một mode Chương 3. Khảo sát sự tạo ra trạng thái đan rối trong bộ nối Kerr tương tác tuyến tính được bơm hai mode 3 Chƣơng 1.
LÝ THUYẾT CƠ SỞ Với khát vọng tạo ra máy tính lượng tử và viễn tải lượng tử thì việc tạo ra các trạng thái có độ rối cao là rất cần thiết và có ý nghĩa nền tảng. Việc xử lý và chuyển tải thông tin là một hiện tượng phi cổ điển do tính không định xứ của đan rối lượng tử. Để tạo ra các trạng thái có độ đan rối cao chúng tôi sẽ sử dụng hình thức luận kéo lượng tử. Đây là nhóm các mô hình hay những phương án vật lý để tạo ra tổ hợp các trạng thái hữu hạn chiều từ các trạng thái vô hạn chiều trong không gian Hilbert.
Tùy thuộc vào các phương án trên được thực hiện bởi việc sử dụng các phần tử tuyến tính hay các thiết bị quang học phi tuyến, chúng ta sẽ có kéo lượng tử tuyến tính hay kéo lượng tử phi tuyến tương ứng. Lý thuyết về trạng thái đan rối 1. Khái niệm qubit Đại lượng cơ bản của thông tin trong lý thuyết thông tin cổ điển là bit, nó có thể mang hai giá trị là 0 hoặc 1. Trong khi đó, đại lượng cơ bản của thông tin lượng tử là bit lượng tử hay còn gọi là qubit, đại lượng này về cơ bản là khác với bit cổ điển.
Chính sự khác biệt này giúp cho qubit có một khả năng vượt trội so với bit cổ điển, qubit là một véctơ trong không gian Hilbert hai chiều có dạng như sau [8]: a1 0 a2 1 , (1.1) trong đó các số phức a1 và a2 thỏa mãn điều kiện chuẩn hóa a1 a2 1 và 2 2 các trạng thái 0 và 1 lập thành hệ cơ sở trực chuẩn. Các trạng thái 0 và 1 có thể biểu diễn dưới dạng ma trận như sau: 1 0 0 , 1 . Trạng thái lượng tử ứng với các điểm trên mặt cầu Bloch [3]. Các qubit được biểu diễn một cách trực quan thông qua mặt cầu Bloch (hình 1.1), trong đó vị trí mỗi điểm trên mặt cầu được xác định thông qua các tham số θ và sẽ biểu diễn một trạng thái của qubit.
Từ mặt cầu này chúng ta thấy rằng bit cổ điển chỉ là một điểm nằm trên cực của mặt cầu, trong khi đó mặt cầu có vô số điểm nên có thể biểu diễn thông tin lượng tử là vô hạn. Do đó, qubit có thể lưu trữ lượng thông tin khổng lồ. Việc thay đổi một qubit trong máy tính lượng tử sẽ làm thay đổi các qubit khác gần như ngay lập tức, tức là máy tính lượng tử có tốc độ xử lý thông tin cực nhanh so với máy tính cổ điển. Cuộc cách mạng về công nghệ thông tin trong tương lai sẽ thực sự xảy ra khi các qubit được khai thác thành công để tạo ra máy tính lượng tử.
Vấn đề khó khăn đặt ra là làm thế nào để thao tác trên các qubit. Theo quy luật lượng tử, chúng ta sẽ không chắc chắn là khi thao tác trên một qubit sẽ thu được giá trị chính xác nào mà chỉ có thể thu được một giá trị ngẫu nhiên với một xác suất nào đó. Đối với một phép đo thì chỉ thu được thông tin riêng lẻ về trạng thái của qubit và chỉ khi thực hiện vô số phép đo trên các qubit đồng nhất thì mới có thể xác định được các tham số a1 và a2 trong trạng thái tổ hợp. Trạng thái Fock Trạng thái Fock n là những trạng thái riêng của toán tử số hạt photon nˆ aˆ aˆ , nó là trường hợp đơn giản của trạng thái hữu hạn chiều với â và â tương ứng là toán tử sinh, hủy hạt boson.
Lúc đó, số hạt boson của trạng thái n chính là trị riêng của phương trình: n̂ n n n , (1.3) các toán tử hủy và sinh hạt boson tác dụng lên trạng thái n lần lượt có dạng: aˆ n n n 1 , (1.5) Bằng các tác dụng liên tiếp toán tử sinh hạt boson lên trạng thái chân không 0 , chúng ta tìm được trạng thái Fock n có dạng như sau: n aˆ 0 .6) n! Hoàn toàn tương tự, chúng ta có thể định nghĩa trạng thái Fock đa mode bằng cách dùng các toán tử riêng cho mỗi mode của trạng thái. Chẳng hạn các toán tử hủy aˆk và sinh aˆk sẽ tác dụng lên mode thứ k của trạng thái m-mode như sau aˆk n1, n2 ,.8) với trạng thái m-mode được biểu diễn dưới dạng sau n1, n2 ,.9) 6 nk là tập hợp số photon trong các mode. Lúc đó, trạng thái m-mode nk có thể được mô tả dưới dạng tổng quát: nk n ! aˆ 0 , nk k (1.10) k k trong đó, trạng thái chân không có dạng sau 0 01,02 ,. Trạng thái đan rối lƣợng tử Trạng thái của một hệ lượng tử bao gồm nhiều hệ con mà trạng thái lượng tử của chúng có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau gọi là trạng thái đan rối [13].
Trong không gian Hilbert H H1 H2 . Hn , chúng ta xét trạng thái lượng tử n qubit dưới dạng: 1,2., 2n) là hệ số phức thỏa mãn điều kiện chuẩn hóa sau 2n c 1., n lần lượt là các trạng thái lượng tử trong các không gian Hilbert H 1 , H 2 ,. Nếu trạng thái 1,2.n có thể được biểu diễn dưới dạng tích tenxơ của các trạng thái 1 , 2 ,.n gọi là trạng thái phân tách được. Còn nếu trạng thái 1,2.n không thể biểu diễn dưới dạng tích tenxơ trên thì trạng thái này gọi là trạng thái đan rối của hệ n qubit.
7 Đối với hệ gồm hai bit cổ điển thì chỉ có bốn trạng thái 00, 01, 10 và 11 nhưng đối với hệ hai qubit thì ngoài bốn trạng thái tương ứng với các trạng thái cổ điển là 00 , 01 , 10 và 11 , chúng ta còn có các trạng thái là tổ hợp của bốn trạng thái này có dạng như sau AB c00 00 c01 01 c10 10 c11 11 , (1.15) trong đó các hệ số phức c00 , c01 , c10 và c11 thỏa mãn điều kiện chuẩn hóa c00 c01 c10 c11 1.16) Và các trạng thái 00 , 01 , 10 và 11 trong biểu diễn ma trận có dạng 1 0 1 1 0 1 0 1 00 , 01 , (1.18) 1 0 1 1 1 0 0 1 sẽ lập thành một hệ cơ sở trực chuẩn của không gian Hilbert H4 H2 H2. Khi đó, nếu thực hiện phép đo trạng thái AB thì chúng ta sẽ thu được các 2 2 2 2 kết quả 00, 01, 10 và 11 tương ứng với các xác suất là c00 , c01 , c10 và c11. Theo lý thuyết xác suất, khi thực hiện phép đo đối với qubit thứ nhất và thứ hai thì sẽ thu được 0 hoặc 1 tương ứng với các xác suất lần lượt là c00 c01 , 2 2 c10 c11 và c00 c10 , c01 c11. 2 2 2 2 2 2 Trong hệ đan rối lượng tử, chúng ta không xác định được trạng thái riêng của từng hệ mà chỉ có thể xác định được trạng thái chung của hệ, có nghĩa là trạng thái của hệ đan rối lượng tử không độc lập với nhau.
Do đó, 8 mỗi tác động đến hệ con của hệ này sẽ lập tức làm ảnh hưởng đến các hệ con còn lại trong hệ đan rối lượng tử. Hệ quả là tốc độ xử lý thông tin trên các hệ đan rối lượng tử sẽ nhanh hơn rất nhiều trên các hệ không đan rối. Đây chính là nền tảng cơ bản ứng dụng cho viễn tải lượng tử. Các trạng thái Bell Khi trạng thái của hệ hai qubit A và B được biểu diễn dưới dạng (1.15), trong đó các hệ số thỏa mãn điều kiện 1 c00 c11 0 c00 c11 2 hoặc c c 1 , (1.19) 10 c c01 0 10 01 2 chúng ta sẽ dễ dàng tìm được các trạng thái Bell có dạng như sau [4]: B1 1 00 11 , B2 1 00 11 , 2 2 (1.
2 2 Và dạng tổng quát của các trạng thái Bell có thể biểu diễn dưới dạng sau 1 1 B m, n 2 p 0 (1)mp p p n .21) Ngoài ra, các trạng thái cơ sở có thể được biểu diễn dưới dạng các trạng thái Bell như sau: 1 1 mn 2 q 0 (1)mq B q, mn , (1.22) với m, n 0,1 và là ký hiệu phép cộng trong hệ nhị phân. Chúng ta dễ dàng thấy rằng các trạng thái Bell trong biểu thức (1.20) là các trạng thái có độ đan rối cực đại. Sử dụng concurrence để tính độ đan rối của trạng thái lƣợng tử Năm 1998 Wootters [19] đã đưa ra cách tính độ đan rối của các trạng thái hai qubit bằng concurrence. Đây là phương pháp đơn giản để tính độ đan 9 rối của một trạng thái lượng tử.
Để tính độ đan rối của trạng thái với * là liên hợp phức của nó, y là ma trận Pauli chuyển pha có dạng 0 i y , (1.23) i 0 và ma trận mật độ của hệ hai qubit A và B theo các trạng thái thuần khiết i với xác suất tương ứng pi AB pi i i .24) i Chúng ta sử dụng trạng thái đảo spin được ký hiệu như sau ~ y * .25) Lúc đó, ma trận mật độ đảo spin có thể được viết dưới dạng ~AB y y * y y .26) Concurrence C của một trạng thái thuần khiết i được định nghĩa là C i i ~i , (1.27) và độ đan rối của trạng thái i là 1 1 C 2 E i h , (1.29) Đối với trạng thái pha trộn có ma trận mật độ AB thì độ đan rối được tính theo biểu thức 10 1 1 C 2 E AB h , (1.