ĐẶT VẤN ĐỀ Ngành chăn nuôi lợn giữ vị trí vô cùng quan trọng, cung cấp nguồn thực phẩm chủ yếu cho con người. Ở Việt Nam, theo tạp chí chăn nuôi Việt Nam (2022) chăn nuôi lợn chiếm trên 60% giá trị ngành chăn nuôi Việt Nam. Trong thời gian qua, tăng trưởng đàn lợn của nước ta có sự biến động mạnh về tổng đàn và sản lượng. Theo số liệu từ Cục Chăn nuôi, tổng đàn lợn đạt cao nhất vào năm 2016 (29,1 triệu con); do có khủng hoảng thừa, còn 27,4 triệu con (năm 2017), tăng trở lại vào năm 2018 (28,1 triệu con).
Do dịch tả lợn châu Phi, tổng đàn giảm sâu kỷ lục vào năm 2019, chỉ còn 19,6 triệu con và hồi phục nhẹ năm 2020 (22,0 triệu con). Năm 2021, tổng đàn lợn cả nước đạt 28 triệu con. Khi nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thịt lợn lên cao nguồn cung cấp hạn chế, đàn lợn nội không đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng vì nhiều lý do như chậm lớn, trọng lượng nhỏ, tỷ lệ nạc thấp, tỷ lệ mỡ cao,. Nhà nước đã có chính sách nhằm củng cố và phát triển giống lợn, xây dựng và mở rộng quy mô đàn lợn ở các địa phương.
Hiện nay nước ta không chỉ chăn nuôi theo phương thức hộ gia đình nhỏ lẻ, sử dụng con giống nội giá trị kinh tế thấp mà nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự tham gia của các công ty trong và ngoài nước trong việc chăn nuôi đã được tăng cường mở rộng theo hướng công nghiệp tập trung sử dụng con giống nhập ngoại, công nghệ tự động. Để đáp ứng được tình hình đó phải có con giống tốt thì mới phát triển được quy mô trong chăn nuôi. Vấn đề quan trọng hàng đầu là chọn giống, con giống phải khỏe mạnh, có nguồn gốc rõ ràng và có khả năng sinh sản cao cùng với đó quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh sản của lợn nái cũng như heo con sau này với mục đích lợn nái nuôi vừa đạt năng suất cao, vừa có thời gian sử dụng lâu dài và hiệu quả, đem lại đàn lợn con tốt khi sinh ra và đáp ứng được 1 nhu cầu con giống trong tình hình chăn nuôi hiện nay. Đồng thời, cần phải có quy trình chăn nuôi hợp lý và khoa học để có thể nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khả năng sinh trưởng của lợn cái F1 (Landrake x Yorkshire) nuôi tại trang trại lợn giống hạt nhân Cargill” 1. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 1. Mục đích + Đánh giá được khả năng sinh trưởng của lợn cái F1 (Landrace x Yorkshire) nuôi tại trang trại lợn giống hạt nhân Cargill + Nắm vững kiến thức về quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn tại trang trại. Yêu cầu + Thu thập đầy đủ và chính xác các số liệu liên quan đến khả năng sinh trưởng của lợn cái F1 (Landrace x Yorkshire) + Nắm bắt được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn trại.
Ý nghĩa + Cung cấp các thông tin về quy trình chăn nuôi lợn tại cơ sở để có thể lựa chọn phương pháp chăn nuôi đem hiệu quả kinh tế cao. 2 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. MỘT SỐ GIỐNG LỢN NGOẠI, LỢN LAI PHỔ BIẾN TẠI VIỆT NAM 2. Lợn Landrace Landrace là giống lợn có nguồn gốc Đan Mạch.
Đây là giống lợn cho nhiều nạc, phàm ăn và thích nghi với điều kiện khí hậu nước ta. Đặc điểm ngoại hình: toàn thân lợn có màu trắng tuyền, đầu nhỏ, dài to rủ xuống kín mặt, tai cúp về phía trước, cổ nhỏ và dài, vai-lưng-mông-đùi rất phát triển, mông đùi to, mõm thẳng, mông nở, ngoại hình thể chất vững chắc. Toàn thân có hình thoi nhọn như quả thủy lôi. Khả năng sinh trưởng: lợn đực trưởng thành nặng 300-320kg, lợn cái nặng 220-250kg, lợn thịt lúc 6 tháng tuổi đạt 100kg với tỷ lệ nạc 55-56%.
Khả năng sinh sản: lợn cái có tuổi phối giống lần đầu 310 ngày, số con đẻ ra 9-11 con/lứa, khối lượng sơ sinh từ 1,3-1,4 kg/con. Lợn đực có thể đưa vào sử dụng lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh dịch khai thác dduuocjw đạt khoảng 270ml/lần. Hướng sử dụng: là giống lợn có khả năng thích nghi tốt và đáp ứng tốt với nhu cầu xã hội. Giống được sử dụng trong các công thức lai kinh tế giữa các giống lợn ngoại với nhau hoặc các giống lợn nội để tạo ra đàn lợn thịt có năng suất chất lượng thịt cao, ngoài ra giống còn được nhân thuần để tăng số lượng đàn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Lợn nái F1(L x Y) được sử dụng rộng rãi với ưu điểm sinh sản tốt, thích nghi rộng rãi và cho đàn lợn thịt có năng suất cao, chất lượng thịt cao khi lai các giống đực có khả năng cho nạc cao như Pietrain,… 2. Lợn Yorkshire 3 Yorkshire là giống lợn được nhập vào Việt Nam từ Liên Xô cũ(1964) và được gọi là lợn Đại Bạch. Là giống lợn được nước ta sử dụng nhiều trong chương trình nạc hóa đàn lợn. Đặc điểm ngoại hình: toàn thân lợn màu trắng, hơi có ánh vàng, mặt hơi thô, mõm hơi cong lên, tai to vừa phải và dựng đứng.
Khả năng sinh trưởng: lợn có khối lượng lớn, con đực trưởng thành nặng 350-380kg, dài thân 170-185 cm. Con cái trưởng thành nặng 250-280kg (Võ Trọng Hốt & cs, 2000). Khối lượng lúc 60 ngày tuổi đạt 16-20kg/con. Lợn vỗ béo đạt 100kg khoảng 5-6 tháng tuổi, tỷ lệ nạc đạt 52-55%.
Tuy nhiên có tỷ lệ nạc cao lên đến 55-60% (Coline T. Khả năng sinh sản: lợn cái thành thục về tính lúc 6 tháng tuổi và có thể phối giống lần đầu khoảng 240- 260 ngày, số con đẻ ra 11-13 con/lứa cao hơn các giống khác, đạt 2,0- 2,2 lứa/năm. Khối lượng sơ sinh trung bình từ 1,3- 1,4kg/con. Hướng sử dụng: giống lợn Yorkshire không chỉ nuôi sử dụng trong công thức lai với lợn nội cũng như lợn ngoại để nâng cao năng suất mà còn được nhân thuần để tăng số lượng đàn phục vụ cho phát triển đàn lợn.
Lợn nái có năng suất sinh sản khá và khả năng chống chịu tốt nên thường được sử dụng làm nái sinh sản. Hiện tại lợn Yorkshire thường sử dụng phối với Landrace để tạo đàn bố mẹ vừa nuôi dễ lại có khả năng sinh sản cao. Lợn nái lai F1(L × Y) Lợn nái lai F1(L × Y) là con lai của công thức lai Sơ đồ lai: ♀Landrace × ♂Yorkshire ↓ F1(L × Y) Lợn nái lai F1(L × Y) có đặc điểm ngoại hình giống lợn Landrace và lợn Yorkshire là thân màu trắng, tai to tuy nhiên không sụp xuống mặt như tai của 4 giống lợn Landrace. Lợn nái lai F1(L × Y) có thân dài, chân cao vững chắc, mông vai nở, bầu vú phát triển tốt.
Khả năng sinh trưởng của lợn F1(L×Y) là 797,78g/con/ngày (Vũ Đình Tôn & cs, 2013). Khả năng sinh sản của lợn F1(L ×Y) có số con đẻ ra còn sống là 10,41 con/ổ, số con để nuôi/ổ là 9,88 con/ổ, khối lượng sơ sinh/ổ là 14,60kg, số con cai sữa lúc 21 ngày tuổi/ổ đạt 9,35 con, khối lượng cai sữa/ổ là 52,28kg và khối lượng cai sữa/con là 5,67kg. CƠ SỞ KHOA HỌC Nghiên cứu chăn nuôi nói chung và công tác chọn giống vật nuôi nói riêng, di truyền học rất cần thiết và quan trọng bởi lẽ khi tìm hiểu về di truyền và bản chất của di truyền sẽ làm rõ các vấn đề liên quan đến các tính trạng. Bản chất của mỗi giống vật nuôi về mặt sinh học được thể hiện qua kiểu hình đặc trưng riêng của nó.
Kiểu hình là tính trạng bên ngoài, biểu hiện sự cụ thể và chi tiết của kiểu gen dưới sự tác động của các yếu tố môi trường khác nhau. Tính trạng số lượng Tính trạng là những đặc điểm có thể quan sát hay xác định được ở mỗi cá thể. Tính trạng phản ánh rõ kiểu hình hoặc kiểu gen bên trong của con vật. Tính trạng bao gồm hai loại là tính trạng số lượng và tính trạng chất lượng.
Tính trạng số lượng là tính trạng được quy định bởi nhiều cặp gen có hiệu ứng nhỏ nhất (minor gene). Tính trạng số lượng bị tác động rất lớn bởi các yếu tố môi trường Hill W. Sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác về mức độ hơn sự sai khác về chủng loại, đó là bản chất của tính trạng đa gen (polygene). Các tính trạng sản xuất của vật nuôi là các tính trạng số lượng do nhiều gen điều khiển, mỗi gen đóng góp một mức độ khác nhau vào cấu thành năng suất của con vật.
Giá trị kiểu hình của các tính trạng sản xuất có sự phân bố liên tục và chịu tác động nhiều bởi nhân tố ngoại cảnh. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính trạng số lượng Con vật bản chất là sống trong môi trường tự nhiên nên sự hình thành, hoạt động của tính trạng không chỉ phụ thuộc vào các gen mà còn chịu sự tác động của các yếu tố môi trường ngoại cảnh. Giá trị kiểu hình của bất kỳ tính trạng số lượng nào cũng có thể phân chia thành giá trị kiểu gen và sai lệch môi trường. Giá trị kiểu hình được biểu thị: P=G+E P: Giá trị kiểu hình (Phenotypic value) G: Giá trị kiểu gen (Genotypic value) E: Sai lệch môi trường (Environmental deviation) 2.
Hệ số di truyền Để xác định ảnh hưởng của di truyền đối với giá trị kiểu hình, Lush (1949) (trích từ Lasley, 1974) đưa ra khái niệm về hệ số di truyền. Giá trị của hệ số di truyền cho ta một khái niệm về mức tiến triển có thể đạt được khi tiến hành chọn lọc với một tính trạng nhất định. Nguyễn Văn Thiện (1995), các tính trạng có hệ số di truyền thấp hiệu quả chọn lọc sẽ thấp, hiệu quả lai giống lại cao. Ngược lại, các tính trạng có hệ số di truyền cao, hiệu quả chọn lọc sẽ cao nhưng hiệu quả lai giống thấp và đưa ra hệ số di truyền của một số tính trạng năng suất sinh sản của lợn: Tính trạng h2 Số con trong lứa đẻ 0,13 Số con cai sữa/ổ 0,12 Khối lượng trung bình lợn sơ sinh 0,05 Khối lượng trung bình lợn cai sữa 0,17 6 2.
Lai giống và ưu thế lai 2. Lai giống Lai giống là cho giao phối giữa những động vật thuộc hai hay nhiều giống khác nhau. Lai khác dòng là cho giao phối giữa những động vật thuộc các dòng khác nhau trong cùng một giống. Mặc dù lai giống xa nhau về huyết thống hơn, xong hiệu ứng di truyền của cả hai kiểu lai lại tương tự nhau.