MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Theo nguồn số liệu từ kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2014 ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ hộ dùng nguồn nước hợp vệ sinh cho ăn uống đạt 93,0%, trong đó nông thôn đạt 90,6%. Tỷ lệ hộ dùng nước máy đạt 34,3%, trong đó thành thị đạt 73,4%, nông thôn đạt 16,6%. Tỷ lệ hộ có hố xí tự hoại và bán tự hoại đạt 67,4%, trong đó khu vực nông thôn đạt 56,9%.
Số hộ có rác thải được thu gom đạt 48,6%, trong đó khu vực thành thị đạt 81,4%, nông thôn đạt 33,8%. Chất thải ra cống rãnh, ao, hồ, sông suối và chôn lấp còn chiếm tỷ lệ cao đã làm ảnh hưởng đến môi trường sống của cộng đồng. Năm 2014, có 48,7% số xã có vấn đề về môi trường, trong đó 21,6% số xã bị ô nhiễm nguồn nước, 9,2% số xã bị ô nhiễm không khí, 13,5% số xã bị ô nhiễm cả nguồn nước và không khí và 4,4% số xã có vấn đề khác về môi trường. Trong đó, tỷ lệ xã bị ô nhiễm cả nguồn nước và không khí tăng so với các năm trước.
Tình hình ô nhiễm môi trường chủ yếu là do rác thải sinh hoạt, trong tổng số các xã bị ô nhiễm môi trường năm 2014 có đến 37,8% số xã bị ô nhiễm là do rác thải sinh hoạt (năm 2008 con số này là 25,1%, năm 2010 là 39,3%). Ngoài ra, tình hình ô nhiễm môi trường còn do chất thải công nghiệp (17,8%), chất thải làng nghề (4,9%) và các nguyên nhân khác (14,6%). Theo thống kê của Bộ Y tế năm 2008 các bệnh liên quan đến nước: tiêu chảy, hội chứng lỵ, lỵ trực khuẩn là 3 trong số 10 bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất, trong đó tiêu chảy là bệnh đứng thứ 6 trong các bệnh có tỷ lệ tử vong lớn nhất (0,009/100. Tỷ lệ mắc/100000 dân với bệnh tiêu chảy là 1081,66; tả là 0,56; lỵ trực khuẩn là 30,55; lỵ amip là 10,97; thương hàn là 1,77 (Số liệu Bộ Y tế, 2009).
Đó là những vấn đề nan giải đặt ra trong các chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường còn chưa đạt được. Thành phố Quy Nhơn nằm về phía đông nam tỉnh Bình Định, thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Việt Nam. Thành phố được biển bao bọc ở hướng Đông, 2 Tây giáp huyện Vân Canh, Bắc giáp huyện Tuy Phước và Phù Cát – tỉnh Bình Định, Nam giáp huyện Sông Cầu - tỉnh Phú Yên, có diện tích 284,28 km2, với bờ biển dài 42 km, thành phố là một trong 6 đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh của Việt Nam và là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Bình Định. Thành phố Quy Nhơn có 21 đơn vị hành chính gồm 16 phường, 5 xã (trong đó có 3 xã bán đảo, 01 xã đảo và 1 xã vùng núi), toàn thành phố có 152 khu vực dân cư, thôn (trong đó có 19 thôn) với diện tích 284,54 km2, dân số trung bình năm 2015 hơn 286,3 nghìn người.
Trên địa bàn thành phố có 05 Khu công nghiệp và 03 cụm công nghiệp; trong đó Khu kinh tế Nhơn Hội có quy mô lớn và đa dạng ngành nghề nhất. Khu kinh tế Nhơn Hội rộng hơn 12.000 ha, nằm phía Đông Bắc thành phố, trên bán đảo Phương Mai (gồm các phân khu chức năng như khu phi thuế quan, khu thuế quan, khu công nghiệp, khu cảng biển nước sâu, khu đô thị, khu du lịch); các khu công nghiệp: Phú Tài, Long Mỹ cùng với các cụm công nghiệp: Nhơn Bình, Quang Trung, Cụm Bùi Thị Xuân và Khu dịch vụ hậu cần nghề cá,. Xuất khẩu là thế mạnh của kinh tế thành phố với các mặt hàng chủ lực: đồ gỗ tinh chế, các mặt hàng nông - lâm - thủy sản, khoáng sản, đá granite và hàng tiêu dùng,… Bên cạnh sự phát triển về kinh tế của tỉnh Bình Định, thì vấn đề về nguồn nước và chất lượng nguồn nước đang dần được quan tâm nhiều hơn, bởi các bệnh liên quan đến nguồn nước ngày càng gia tăng (như dịch tả, tiêu chảy,. Cùng với đó, nhu cầu sử dụng nguồn nước có chất lượng vệ sinh cao đang được người dân chú trọng đến, với tỷ lệ đến 86,7% đồng ý rằng, việc sử dụng nguồn nước có chất lượng, đảm bảo vệ sinh sẽ giúp nâng cao sức khỏe và giúp chống chọi lại bệnh tật1.
Thế nhưng, hiện nay, tình trạng sử dụng nguồn nước máy cho nhu cầu sinh hoạt của người dân thành phố Quy Nhơn nói riêng, cũng như toàn dân tỉnh Bình Định nói chung vẫn còn hạn chế, tỷ lệ cấp nước chiếm khoảng 50 - 80% dân số, riêng nội thị thành phố Quy Nhơn số dân được sử dụng nước sạch đạt khoảng 96,0% và tiêu chuẩn cấp nước đạt khoảng 80 - 100 1 Báo cáo Tình hình cung cấp nước của Công ty cấp thoát nước Bình Định, 2015 3 lít/ng. Thêm vào đó, những khu vực đông dân cư như: chung cư xã hội, các khu tập trung nhiều nhà máy, công ty,. lại đang vấp phải vấn đề thiếu hụt về nguồn nước. Và các công trình cấp nước sạch nông thôn chủ yếu được xây dựng từ nhiều nguồn vốn khác nhau, quy mô công suất nhỏ (<100 m3/m3.ngđ), nhu cầu sử dụng của người dân thấp dẫn đến các công trình đang trong tình trạng doanh thu thường xuyên không đủ để trang trải chi phí vận hành thông thường và các sửa chữa lớn nên hệ thống thiết bị nhanh chóng bị xuống cấp.
Việc duy tu bảo trì thiết bị công nghệ cũng như chất lượng nước chưa thực sự đảm bảo3. Từ những thực trạng nêu trên, tình hình sử dụng nước sạch của người dân thành phố Quy Nhơn, cũng như tỉnh Bình Định như thế nào? Và vấn đề chi trả cho dịch vụ nguồn nước máy cần phải được phân tích và đánh giá. Những yếu tố nào sẽ tác động ảnh hưởng đến mức độ sẵn lòng chi trả của người dân đối với dịch vụ nước máy? Để từ đó, tác giả đề xuất các kiến nghị phù hợp để tăng số hộ sử dụng nước máy cho sinh hoạt, nhằm giải quyết những vấn đề này tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khả năng cung cấp nước sạch và mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ nước sạch của người dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định". Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu chung: Trên cơ sở đánh giá thực trạng sử dụng dịch vụ nước sạch và xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân trên địa bàn Thành phố Quy Nhơn đối với dịch vụ nước sạch, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng nước sạch của các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu. Mục tiêu cụ thể: Đánh giá thực trạng về khả năng cung cấp nước sạch trên địa bàn Thành phố Quy Nhơn Xác định mức sẵn lòng chi trả đối với dịch vụ nước sạch trên địa bàn Thành phố Quy Nhơn. 2 Báo cáo thuyết minh vùng tỉnh Bình Định, tháng 7.2016, trang 56 3 Báo cáo thuyết minh vùng tỉnh Bình Định, tháng 7.2016, trang 57 4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sẵn lòng trả của người dân đối với dịch vụ nước sạch trên địa bàn thành phố Quy Nhơn; Đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả và thu hút người dân sử dụng nước sạch cho sinh hoạt trên địa bàn thành phố Quy Nhơn. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về mức sẵn lòng chi trả người dân với dịch vụ nước sạch. Đối tượng điều tra là người dân đã sử dụng và chưa sử dụng nước sạch nhưng có nhu cầu sử dụng nước sạch trong địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu mức độ sẵn lòng chi trả của người dân trong thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đối với nước sạch. Và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ sẵn lòng chi trả của người dân đối với nước sạch.
Phạm vi về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp được sử dụng từ 2010 – 2015. Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2016. Câu hỏi nghiên cứu Thực trạng sử dụng dịch vụ nước sạch của người dân và và dịch vụ cung cấp nước máy của Công ty cấp thoát nước Bình Định tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định như thế nào? Mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ nước sạch của người dân trên địa bàn thành phố Quy Nhơn được xác định như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng tới mức độ sẵn lòng chi trả của người dân thành phố Quy Nhơn đối với dịch vụ nước sạch? Những giải pháp nào nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng dịch vụ nước sạch của người dân trên địa bàn thành phố Quy Nhơn? 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH NGHIÊN CỨU Trong chương 2, tác giả sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết và khung phân tích nghiên cứu của đề tài “Khả năng cung cấp nước sạch và mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ nước sạch của người dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định”.
Nội chung của chương 2 bao gồm 4 phần chính: Một số khái niệm (mức sẵn lòng chi trả, nước sạch), cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu (kinh nghiệm quản lý nước sạch ở các nước như Trung Quốc, Việt Nam), tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan và khung phân tích của đề tài. Một số khái niệm 2. Khái niệm mức sẵn lòng chi trả theo tiếp cận marketing: Theo Breidert (2005), khi mua sắm một sản phẩm, khách hàng sẵn lòng chi trả bao nhiêu phụ thuộc vào giá trị kinh tế nhận được và mức độ hữu dụng của sản phẩm. Hai giá trị xác định mức giá một người sẵn lòng chấp nhận là mức giá hạn chế và mức giá tối đa.
Tùy thuộc nhận định của khách hàng khi mua sản phẩm là sản phẩm dự định mua không có sản phẩm thay thế thì để có được độ hữu dụng của sản phẩm, khách hàng sẵn sàng chi trả khoản tiền cao nhất là mức giá hạn chế; hoặc sản phẩm thay thế của sản phẩm dự định mua có giá trị kinh tế thấp hơn mức hữu dụng thì mức giá cao nhất khách hàng chấp nhận chi trả bằng với giá trị kinh tế của sản phẩm thay thế là mức giá tối đa. Mức sẵn lòng chi trả được định nghĩa là mức giá cao nhất một cá nhân sẵn sàng chấp nhận chi trả cho một hàng hóa hoặc dịch vụ.