mở đầu cho công trình biên soạn thần thoại dưới hình thức truyền thuyết, dã sử, thần tích, ngọc phả”. Môtip thường thấy là thần hiển linh báo mộng, phán xét công bằng, giúp các sinh linh. Hơn nữa, văn hóa dân gian của ta cũng phong phú vô cùng với những tín ngưỡng, sự tích, thần thoại…đã để lại cho truyện truyền kỳ những môtip 11 quen thuộc như người chết đi sống lại, người lên tiên cảnh, yêu quái biến thành người, người lấy ma….Kho tàng ấy là “nguồn vốn dồi dào” cho các tác giả trung đại kế thừa và phát huy, sáng tạo. Qua đó, cho chúng ta thấy: dù ít nhiều chịu ảnh hưởng thể loại từ giao lưu văn học với của Trung Quốc nhưng truyện truyền kỳ của ta vẫn mang đậm nét Việt, vẫn mang hơi hướng của những câu chuyện dân gian Việt Nam.
Đó vẫn là truyện nói về người Việt Nam, về số phận, tâm tư con người Việt Nam, về những sự kiện lịch sử của Việt Nam… Với hai nguồn ảnh hưởng là truyện truyền kỳ Trung Quốc và nền văn hóa dân tộc, truyện truyền kỳ Việt Nam đã hình thành và phát triển mạnh mẽ, đỉnh cao là truyện Truyền kỳ mạn lục. Nó phát triển là vì không những chúng ta biết tiếp nhận kế thừa mà các tác giả còn biết sáng tạo, tưởng tượng. Không đâu có thể tìm thấy một Truyền kỳ mạn lục với đề tài mới ca ngợi trí thức dân tộc (chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên Tào). Không đâu có một Truyền kỳ mạn lục phê phán thói xấu của xã hội phong kiến, hay một Truyền kỳ mạn lục với số phận, khát vọng của con người đặc biệt là người phụ nữ.
Ngoài ra, trong bối cảnh văn – sử - triết bất phân, văn học dùng để giáo hóa con người thì thể loại truyền kỳ nổi lên với những phép lạ, những lực lượng thần linh, những chuyện kì ảo đã tách truyện truyền kỳ ra một tuyến riêng biệt; trở thành thể loại văn học mang giá trị cao về nội dung lẫn nghệ thuật.2 Khái niệm Nhắc đến thể loại truyện truyền kỳ, người ta nghĩ ngay đến Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, một số đọc giả hiểu biết thì còn nhớ tới Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ tân phả, Tân truyền kỳ lục, Lan Trì kiến văn lục… Thế những khái niệm “truyền kỳ” là gì thì mấy ai hiểu rõ được. Định nghĩa thể loại này, cũng đã có rất nhiều ý kiến của nhà nghiên cứu, các học giả quan tâm. Nhiều nhà nghiên cứu đã giải thích theo hướng chiết tự. “Truyền” là lưu truyền, truyền đi; “kỳ” là những sự việc kỳ lạ, hiếm thấy trong cuộc sống, đôi khi là không có thực.
Chúng tôi xin dẫn ra ý kiến của tác giả Vũ Ngọc Khánh và Nguyễn Quang Ân: “Theo đúng nghĩa của nó, truyền kỳ chỉ có nghĩa truyền đi, kể đi một sự lạ. Sự lạ này có thể là chuyện của thần thánh, của ma quái, chuyện có 12 những thông tin dị biệt đối với đời […]. Các nhà Nho đã chịu khó ghi chép nhiều chuyện lạ, chuyện được nghe, chuyện đồn đại, họ đều để công thu thập lại hết với thái độ nửa tin nửa ngờ, hoặc nửa hư cấu sáng tạo, nửa ký sự… Và như vậy họ mới đặt cái tên là Thính văn di lục chẳng hạn”. Tuy dễ hiểu là vậy, nhưng xung quanh khái niệm này vẫn còn nhiều sự lý giải khác.
Các nhà nghiên cứu đã cho rằng truyện truyền kỳ là một thể loại tự sự cổ điển dung lượng ngắn của văn học Trung Quốc, có từ thời Đường, và đến cuối thời Đường thì tên gọi này ra đời. Lúc đầu, các truyện truyền kỳ chủ yếu mô phỏng chí quái thời Lục triều, sau phát triển thành một thể loại riêng. Lúc ấy, truyền kỳ chỉ là tên của tập sách có tên Truyền kỳ do Bùi Hinh và một số tác giả thời Trung Đường kể lại. Sau đó, các nhà nghiên cứu đã dùng tên này để gọi chung cho các kiểu truyện như vậy.
Trải qua quá trình phát triển, thuật ngữ truyền kỳ trở thành tên gọi một thể loại truyện ngắn thời trung đại. Ngoài ra, truyện không chỉ gói gọn trong việc truyền đi các sự lạ mà nó còn trở thành một thể loại văn học mới, chứa cả sử, thơ, nghị luận…Chả trách Trần Đình Sử trong Thi pháp văn học trung đại cũng khẳng định: “Truyện truyền kỳ dùng văn xuôi để kể, đến chỗ tả cảnh, tả người thì dùng văn biền ngẫu, khi nhân vật bộc lộ cảm xúc thì thường làm thơ”. Nhiều thể loại trong cùng một thể loại, chính sự kết hợp này đã đem lại cho chúng ta những câu chuyện để đời. Nó gây cho người đọc hứng thú, không quá nhàm chán với một cách thể hiện và mỗi thể loại sử dụng cho một mục đích đã thể hiện rõ tâm tư, tình cảm, sự việc trong một câu chuyện.
Cũng với quan điểm trên, các từ điển đã ghi một cách đầy đủ hơn. Các nhà biên soạn lại dùng thuật ngữ “tiểu thuyết truyền kỳ” thay cho “truyện truyền kỳ”. Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán chủ biên, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, trong mục từ “tiểu thuyết truyền kỳ” ghi: “Còn gọi là truyện truyền kỳ. Thể loại tự sự ngắn cổ điển của văn học Trung Quốc hình thành ở thời Đường.
Tên gọi này tới cuối thời Đường mới có. “Kỳ” nghĩa là không có thực, nhấn mạnh tính chất hư cấu. Thoạt đầu tiểu thuyết truyền kỳ mô phỏng truyện chí quái thời Lục triều, sau phát triển độc lập. Có loại miêu tả cuộc đời biến ảo mơ mộng (ví dụ Nam Kha thái thú truyện).
Có loại ca ngợi tình 13 yêu nam nữ (như Chương Đài liễu truyện). Có loại miêu tả hào sĩ hiệp khách (như Hồng Nhiễm khách truyện). Tiểu thuyết truyền kỳ tiêu biểu của văn học Việt Nam là Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ và Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm”. Trong Từ điển văn học của Đỗ Đức Hiểu chủ biên, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá cũng cho rằng truyền kỳ là “một hình thức văn xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc, vốn bắt đầu từ truyện kể dân gian, sau đó được các nhà văn nâng lên thành văn chương bác học, sử dụng môtip kỳ quái hoang đường, lồng trong một số truyện có ý nghĩa trần thế, nhằm gợi hứng thú cho người đọc”.
Qua rất nhiều nhận định mà chúng tôi đã dẫn trên, có thể đi đến khái niệm nhất quán rằng truyện truyền kỳ thuộc thể loại văn xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc, có nguồn gốc từ những truyện thần linh, chí quái trong dân gian. Ở Việt Nam, tuy vẫn là thể loại truyền kỳ nhưng nó được “Việt Vam hóa” bởi sự việc, vốn văn hóa dân tộc, con người, tâm tư, khát vọng của chính người Việt Nam. Ngoài ra truyện truyền kỳ Việt Nam còn được thổi vào đó trí tưởng tượng, sự sáng tạo của những tác giả Việt Nam làm cho truyện thêm hấp dẫn, lôi cuốn người đọc. Nhờ vậy truyện truyền kỳ Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn văn học trung đại, để lại cho đời sau một Truyền kỳ mạn lục mãi chẳng có truyền kỳ nào sánh được.2 Đặc trưng thể loại truyền kỳ 1.1 Đặc trưng nội dung Truyện truyền kỳ có hệ thống nhân vật khá phong phú.
Vì có nguồn gốc từ những truyện kì dị, chí quái thời xưa, và cả những câu truyện trong dân gian kết hợp với trí tưởng tượng của tác giả nên hệt thống nhân vật không hề cố định. Nhật vật của truyện thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, từ vua quan…đến đạo sĩ, dân thường và có cả phật, thánh nữa. Chính sự linh hoạt thay đổi nhân vật đã góp phần làm cho truyện cuốn hút hơn, không gây nhàm chán cho người đọc, không có cái nhìn phiến diện từ một tầng lớp. Về nội dung, truyện truyền kỳ thể hiện bốn chủ đề lớn.
Thứ nhất, truyện thường phản ánh các truyện xưa tích cũ, ca ngợi các bậc anh hùng, hiền tài. Bởi truyện kế thừa nội dung của thần thoại, truyền thuyết, …của nền văn hóa dân gian Việt Nam. Nhiều bậc anh hùng, hiền tài đi vào truyện được tác giả thần thánh hóa, 14 trở thành vị thánh hiển linh cho làng đó, xã đó. Điển hình như Chuyện chức phán sự đền Tản Viên.
Rồi có cả những nam nhân, nữ nhân được tôn kính, lập đền thờ phụng sau khi mất. Cũng trong truyện truyền kỳ, từ thế XV trở đi, thần thánh lại là những vị rất đỗi bình thường, có cuộc sống như ở trần thế. Chẳng hạn như truyện Ngọc nữ về tay chân chủ (Thánh Tông di thảo), chuyện nữ thần ở Vân Cát (Truyền kỳ tân phả). Thật ra, mọi sự thần thánh hóa, bất tử hóa cho những con người ấy cũng chính là cách tác giả gởi gắm ước mơ, lý tưởng của mình trong cuộc sống.
Những nhân vật bất tử , linh thiêng ấy là “công cụ”, là cái cớ để nhân dân lúc bấy giờ hy vọng nhiều điều tốt đẹp đến với mình. Ngoài nội dung phản ánh lịch sử, truyện truyền kỳ còn cho ta hiểu thêm về cách dân gian tiếp nhận các tư tưởng tôn giáo. Nghĩa là đọc truyện ta thấy rõ thái độ của người viết với ba luồng tư tưởng Nho, Phật, Đạo. Ở phương Đông, đây cũng là ba tư tưởng thống trị trong tâm linh con người thời phong kiến và đến cả ngày nay.
Trong truyện truyền kỳ, dù nhiều tác giả khác nhau sáng tác, nhưng hầu hết đầu khá đề cao tư tưởng Nho giáo. Ta thấy một thực tế trong truyện là những người học trò nghèo chăm học học tập thường đỗ đạt, làm quan to trong triều (Hai thần hiếu đễ trong Thánh Tông di thảo, Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi thiên tào trong Truyền kỳ mạn lục). Hay những người sống hiền lành chuyên giúp đỡ mọi người thì sẽ được niềm vui, hạnh phúc lâu dài. Còn người thoát khỏi vòng cương tỏa Nho gia, đắm chìm trong sắc dục sẽ khó có một cái kết có hậu như ở Chuyện cây gạo, Chuyện kì ngộ ở trại Tây.
Trong khi ấy, Đạo giáo được thể hiện qua hình ảnh các vị đạo sĩ tinh thông phép thuật có khả năng diệt trừ yêu quái, nhưng không màng danh lợi mà chỉ sống ẩn dật nơi rừng núi. Thậm chí có bậc cao sĩ không hề lay chuyển ý chí trước lời mời mọc của vua quan, một mực khước từ danh lợi. Điều này ta thấy rõ ở truyện Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc (Thánh Tông di thảo), Chuyện gã trà đồng giáng sinh (Truyền kỳ mạn lục). Bên cạnh hai tư tưởng trên, Phật giáo cũng được nhắc đến ở thể loại này.