Luận văn thạc sĩ kết quả điều trị chấn thương cột sống cổ thấp bằng phẫu thuật theo đường cổ trước tại bệnh viện trung ương thái nguyên

Luận văn thạc sĩ phân tích kết quả điều trị chấn thương cột sống cổ thấp qua phẫu thuật đường cổ trước tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn bác sĩ nội trú

2019

102
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chấn thương cột sống cổ thấp

Chấn thương cột sống cổ thấp là một trong những chấn thương nghiêm trọng, thường xảy ra ở độ tuổi lao động (82,6%). Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể tử vong hoặc để lại di chứng tàn tật nặng nề. Phẫu thuật đường cổ trước đã trở thành phương pháp điều trị phổ biến, mang lại hiệu quả cao trong việc phục hồi chức năng thần kinh và ổn định cột sống. Nghiên cứu này tập trung vào kết quả điều trị chấn thương cột sống cổ thấp bằng phẫu thuật đường cổ trước tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, nhằm đánh giá hiệu quả lâm sàng và cận lâm sàng của phương pháp này.

1.1. Giải phẫu cột sống cổ thấp

Cột sống cổ thấp bao gồm các đốt sống từ C3 đến C7, có cấu trúc phức tạp với thân đốt sống, đĩa đệm, dây chằng và tủy sống. Thân đốt sống có hình trụ, dẹt bề ngang, với chiều rộng trung bình từ 15mm đến 18mm. Đĩa đệm đóng vai trò quan trọng trong việc hấp thụ lực và duy trì độ linh hoạt của cột sống. Tủy sống được bảo vệ bởi các màng tủy và hệ thống dây chằng, đồng thời được cung cấp máu bởi các động mạch tủy gai. Hiểu rõ cấu trúc giải phẫu giúp xác định chính xác vị trí và mức độ tổn thương trong chấn thương cột sống cổ thấp.

1.2. Các tổn thương giải phẫu trong chấn thương cột sống cổ thấp

Chấn thương cột sống cổ thấp có thể gây tổn thương đa dạng, bao gồm gãy xương, trật khớp, thoát vị đĩa đệm và tổn thương tủy sống. Các tổn thương này thường được phân loại theo cơ chế chấn thương như ép-gập, ép thẳng trục, gập-giãn, và ép-ưỡn. Mỗi loại tổn thương có đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng riêng, đòi hỏi phương pháp điều trị phù hợp. Ví dụ, tổn thương ép-gập thường gây lún thân đốt sống và tổn thương dây chằng, trong khi tổn thương ép thẳng trục có thể dẫn đến vỡ vụn thân đốt sống và chèn ép tủy sống.

II. Phương pháp phẫu thuật đường cổ trước

Phẫu thuật đường cổ trước là phương pháp điều trị hiệu quả cho chấn thương cột sống cổ thấp, giúp giải ép tủy sống và ổn định cột sống. Phương pháp này được thực hiện thông qua việc tiếp cận từ phía trước cổ, loại bỏ các mảnh xương gãy hoặc đĩa đệm thoát vị, sau đó cố định cột sống bằng nẹp vít. Nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ thành công cao, với 65,2% bệnh nhân hồi phục thần kinh tốt sau phẫu thuật.

2.1. Quy trình phẫu thuật

Quy trình phẫu thuật đường cổ trước bao gồm các bước chính: gây mê toàn thân, tiếp cận vùng cổ trước, loại bỏ các mảnh xương gãy hoặc đĩa đệm thoát vị, và cố định cột sống bằng nẹp vít. Nẹp vít được chọn có chiều dài phù hợp với kích thước thân đốt sống, thường từ 16mm đến 18mm. Sau phẫu thuật, bệnh nhân được theo dõi chặt chẽ để đánh giá sự hồi phục thần kinh và phát hiện sớm các biến chứng.

2.2. Đánh giá kết quả phẫu thuật

Kết quả phẫu thuật đường cổ trước được đánh giá dựa trên sự cải thiện các triệu chứng lâm sàng, bao gồm phục hồi vận động, cảm giác và chức năng cơ tròn. Các chỉ số cận lâm sàng như hình ảnh X-quang, CT và MRI cũng được sử dụng để xác định mức độ ổn định cột sống và giải ép tủy sống. Nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên cho thấy, sau 3 tháng phẫu thuật, 75% bệnh nhân có sự tiến triển tích cực theo phân loại Frankel.

III. Kết quả và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về kết quả điều trị chấn thương cột sống cổ thấp bằng phẫu thuật đường cổ trước tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đã chứng minh hiệu quả vượt trội của phương pháp này. Với tỷ lệ thành công cao và ít biến chứng, phẫu thuật đường cổ trước đã trở thành lựa chọn hàng đầu trong điều trị chấn thương cột sống cổ thấp. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực phẫu thuật cột sống.

3.1. Giá trị thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho việc áp dụng phẫu thuật đường cổ trước trong điều trị chấn thương cột sống cổ thấp. Các kết quả thu được không chỉ giúp cải thiện chất lượng điều trị tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên mà còn có thể áp dụng rộng rãi tại các cơ sở y tế khác. Đồng thời, nghiên cứu cũng góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc điều trị kịp thời và đúng phương pháp đối với chấn thương cột sống cổ thấp.

3.2. Hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, nghiên cứu cần tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình phẫu thuật đường cổ trước, cải thiện vật liệu nẹp vít và phát triển các phương pháp hỗ trợ phục hồi chức năng sau phẫu thuật. Đồng thời, việc mở rộng quy mô nghiên cứu và hợp tác quốc tế sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị và ứng dụng rộng rãi phương pháp này trong thực tiễn lâm sàng.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ kết quả điều trị chấn thương cột sống cổ thấp bằng phẫu thuật theo đường cổ trước tại bệnh viện trung ương thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Sơ lược giải phẫu cột sống cổ Cột sống cổ gồm 7 đốt nối từ lỗ chẩm đến đốt sống ngực 1. Có một số tác giả coi hộp sọ là đốt sống cổ O (C0). Được chia làm 2 đoạn do cấu trúc và chức năng khác nhau [6], [8].

Các đốt sống cổ cao: Gồm đốt trục (C1) và đốt đội (C2). Các đốt sống cổ thấp: Từ đốt sống cổ 3 (C3) đến đốt sống cổ 7 (C7). Đốt sống cổ điển hình [8] Đặc điểm của các đốt sống cổ thấp có cấu trúc điển hình gồm: Thân đốt sống ở trước dẹt bề ngang, dầy ở phía trước hơn ở phía sau. Mỗi đốt sống đều có mỏm ngang, mỏm khớp trên và dưới.

Cuống sống tách ra từ phía sau của mặt bên thân đốt sống, khuyết sống trên và dưới đều sâu bằng nhau, mảnh sống hình vuông, rộng và hơi cao [6], [8]. Các mỏm gai ở sau, ngắn, đỉnh tách Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 4 ra làm 2 củ, mỏm ngang dính vào thân và cuống sống, mỏm gai của C6 và C7 dài hơn và chẽ đôi (đây là mốc nhận biết khi phẫu thuật). Mỏm khớp có diện phẳng nằm ngang, đặc trưng nhất để nhận biết một đốt sống cổ là có lỗ ngang. Cấu trúc cột sống cổ thấp Mỗi một đốt sống cổ nói chung gồm những thành phần sau: Thân đốt sống (ventebrae body) hình trụ có 2 mặt: Mặt trên và dưới, hơi lõm ở giữa và một vành xương đặc ở xung quanh [6], [8].

Thân đốt sống từ C3 đến C6 có chiều rộng khoảng 15mm, sâu 13mm và chiều cao đo ở mặt sau theo cột trụ giữa khoảng 11mm. Ở C7 rộng 18mm, sâu 15mm. Đây là cơ sở cho việc chọn chiều dài của vít khi phẫu thuật bắt nẹp vít ở mặt trước thân đốt sống thường chọn vít có chiều dài 16mm - 18mm [1], [18], [24]. Cung đốt sống (Supply vertebrae) cùng với thân đốt sống tạo thành lỗ đốt sống.

Cung đốt sống gồm 2 mảnh (laminasupply vertebrae) và 2 cuống cung đốt sống (erection vertebrae). Hai bờ trên và dưới của mỗi cuống cung có khuyết sống trên và khuyết sống dưới, khi 2 đốt sống khớp với nhau thì các khuyết đó tạo thành lỗ gian đốt để các dây thần kinh gai sống chui ra [18], [24]. Lỗ đốt sống (hole vertebrae) giới hạn phía trước bởi thân đốt sống, hai bên và phía sau bởi cung đốt sống. Khi các đốt sống ghép thành cột sống thì các lỗ đốt sống tạo thành ống sống hay ống tủy.

Ống sống có kích thước tăng dần từ dưới lên. Mỏm gai phía trên đều nhau, riêng C7 mỏm gai lớn và lồi lên. Gai sống gồm hai phần: Cuống trước và cuống sau. Ống tủy có hình đa giác với các góc uốn tròn, chiều ngang rộng hơn chiều trước sau, đường kính trung bình của tủy cổ 15mm - 16mm rộng nhất ở C2 và hẹp nhất ở C7.

Khớp hoạt dịch: Các ụ khớp gắn với nhau tạo nên diện khớp, diện khớp ở các đốt sống có tổ chức sụn, bao quanh bởi dây chằng và được phủ lên bởi màng hoạt dịch. Nhìn từ phía sau, diện khớp tạo thành một đường nằm ngang, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 hơi chếch xuống dưới. Khoảng cách giữa các đường khớp ở hai bên giữa khớp trên và khớp dưới tương đối bằng nhau, thay đổi từ 9mm - 16mm, trung bình là 13mm [6], [18], [41]. Khớp sụn: Hay chính là đĩa đệm nằm giữa các thân đốt sống.

Đĩa đệm có hình thấu kính 2 mặt lồi, chu vi là vòng sợi sơ sụn rất đàn hồi, cấu tạo gồm nhân ở giữa, nhân có thể di chuyển trong vòng sợi tùy theo vị trí của các thân đốt sống, ngoài cùng đĩa sụn dính liền với bề mặt thân đốt sống. Đĩa đệm đàn hồi có tác dụng hấp thu bớt các lực dồn ép lên cột sống, trong khi đó lớp vỏ xơ cùng hệ thống dây chằng và khớp tạo nên sự vững chắc cho cột sống. Đĩa đệm dầy ở phía trước so với sau tạo nên độ ưỡn của cổ. Khớp sợi: Giữ cho đĩa đệm nằm giữa thân đốt sống là dây chằng dọc trước và dây chằng dọc sau.

Dây chằng dọc trước phủ mặt trước thân đốt sống, bám từ nền xương chẩm đến xương cùng. Dây chằng dọc sau bám từ xương chẩm đến xương cụt ở mặt sau thân đốt sống tức thành trước ống sống [1], [8]. Dây chằng vàng là tổ chức sợi màu vàng, liên kết giữa các mảnh sống trên và dưới của các cung đốt liền kề, trải rộng tới khối bên và có tính đàn hồi cao. Dây chằng trên gai đây là dây chằng mỏng chạy qua các đỉnh mỏm gai.

Dây chằng liên gai nối giữa các gai sống theo kiểu bắt chéo. Dây chằng khớp bao quanh các khớp hoạt dịch nhỏ giữa các mỏm khớp. Màng tủy Giống như não, tủy được bao phủ và bảo vệ, nuôi dưỡng bởi màng tủy. Ngoài cùng là màng tủy cứng có cấu trúc sợi, dai có chức năng bảo vệ.

Tiếp đến là màng nhện mỏng, trong suốt, nằm giữa màng cứng và màng mềm, gồm 2 lá áp sát vào nhau tạo nên 1 khoang ảo. Giữa màng nhện và màng mềm có 1 khoang gọi là khoang dưới nhện chứa đầy dịch não tuỷ. Tiếp đến là màng não Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 mềm: bao phủ toàn bộ mặt ngoài và lách sâu vào các khe của bán cầu đại não, nó dày lên ở quanh các não thất và tạo nên các tấm mạch mạc và các đám rối mạch mạc. Khoang dưới nhện thay đổi kích thước tuỳ chỗ.

Tủy cổ bám vào màng cứng bởi dây chằng răng lược ở hai bên, giữa hai rễ thần kinh có tác dụng bảo vệ tủy bằng cách giữ tủy nằm giữa lớp dịch não tủy và hạn chế cử động tủy khi cổ vận động [6], [14]. Tuần hoàn tủy sống Hình 1.2 Các động mạch tủy gai [8] Tủy sống được cấp máu từ hai nguồn: Động mạch đốt sống và các động mạch rễ. Các động mạch rễ tách ra từ các động mạch cổ sâu tương ứng với từng khu vực tủy sống. Các động mạch rễ đi cùng với các thần kinh tủy sống qua lỗ gian đốt sống phân chia thành các động mạch rễ trước và rễ sau.

Động mạch đốt sống là ngành bên của động mạch dưới đòn, chui vào lỗ của các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 mỏm ngang đốt sống, hầu hết các trường hợp chui vào từ lỗ mỏm ngang đốt sống cổ 6 (C6) động mạch đốt sống chạy dọc giữa các đốt sống này sau đó đi vòng ra sau quanh mỏm khớp trên của đốt đội (C1) chui vào trong hộp sọ. Mỗi động mạch đốt sống tách ra hai động mạch nhỏ là động mạch tủy sống trước và động mạch tủy sống sau [14]. Ngoài ra tủy còn được cấp máu bởi hệ động mạch dọc và động mạch ngang. - Hệ tĩnh mạch: Hệ này đi kèm động mạch, thu máu từ trong tủy, quanh tủy và ngoài tủy để đổ về hệ tĩnh mạch trong ống sống và ngoài ống sống sau đó về tĩnh mạch Azygos.

Các tổn thương giải phẫu của chấn thương cột sống cổ thấp Tổn thương tủy cổ xuất hiện khi cấu trúc cơ, xương, dây chằng của cột sống không chịu đựng được lực chấn thương lớn tác động. Khi đó lực chấn thương truyền trực tiếp vào tủy sống. Tổn thương tủy cổ phụ thuộc sức ép, bầm dập, thiếu máu của các thành phần tủy sống. Các thành phần này gồm: Thân tế bào, sợi trục và mạch máu.

Chấn thương tủy gây ra tam chứng: Xuất huyết, phù, thiếu máu [1], [15], [22]. Tủy có thể bị chèn ép gián tiếp do lực gập, duỗi, xoay, ép hướng dọc trục hoặc trực tiếp do thoát vị đĩa đệm hay mảnh xương gãy. Phần lớn nguyên nhân của chấn thương tủy do gãy trật cột sống nhưng cũng có trường hợp có chấn thương tủy mà không có bất thường trên hình ảnh X- quang, lúc bấy giờ cần thiết phải chụp cắt lớp vi tính. Thương tổn nguyên phát của tủy gây ra do sự chèn ép của xương, dây chằng, máu tụ, đĩa đệm.

phụ thuộc vào mức độ và thời gian chèn ép. Thời gian chèn ép càng dài dẫn đến các biểu hiện thần kinh nặng nề hơn thậm chí không hồi phục [29]. Có nhiều cách phân loại thương tổn, trong đó cách phân loại theo cơ chế thương tổn, hướng lực gây thương tổn cho thấy có giá trị trong thực hành lâm sàng [39], [41]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.

Thương tổn ép - gập Cơ chế: Lực nén lên cột sống cổ bị gập tạo ra sức ép lên trục trước và kéo dãn cột sau. Thương tổn chia làm 3 mức độ: - Độ 1: Cột trụ trước còn nguyên vẹn, không gây tổn thương dây chằng cột trụ giữa và cột trụ sau. Loại này ít gây tổn thương thần kinh nhưng làm biến dạng gập góc về sau nếu không được cố định. - Độ 2: Vỡ thân đốt sống không di lệch hoặc di lệch dưới 3mm, có thể rách hoàn toàn dây chằng dọc sau.

Thương tổn thần kinh không phổ biến. - Độ 3: Thân đốt sống bị di lệch ra sau, tổn thương hoàn toàn cả 3 cột trụ, tổn thương thần kinh gần như là chắc chắn. Tổn thương thường gặp là trật khớp, lún hình chêm và vỡ giọt lệ. Vỡ giọt lệ (Tear-Drop) do động tác cúi quá mức đột ngột (hyperflexion).

Đây là loại chấn thương nặng do tổn thương phối hợp của đĩa đệm, dây chằng và thân đốt sống, là loại gãy không vững do tổn thương cả 3 cột trụ của cột sống cổ [7], [13]. Thương tổn ép thẳng trục Lực tác động ép lên đỉnh sọ, ép lên trung tâm cột sống vì vậy tổn thương có xu hướng làm ngắn cột trụ trước và cột trụ giữa cột sống và chia làm 3 mức độ [7]. - Độ 1: Lún đơn thuần mặt trên hoặc cả mặt dưới thân đốt, thân đốt có hình chêm, không dãn tổ hợp dây chằng phía sau. - Độ 2: Lún cả 2 mặt thân đốt kèm vỡ không di lệch, không có dãn tổ hợp dây chằng phía sau.

- Độ 3: Vỡ vụn hơn, có mảnh vụn chèn vào ống sống phía sau, dây chằng cột trụ giữa, cột trụ sau và tủy sống cũng bị tổn thương, ống tủy hẹp lại do thân đốt sống di lệch ra sau. Theo tác giả Goldberg (2001) nghiên cứu có tất cả 235 bệnh nhân vỡ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 9 thân đốt sống chiếm 29,9% các bệnh nhân chấn thương cột sống cổ [34].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kết quả điều trị chấn thương cột sống cổ thấp bằng phẫu thuật đường cổ trước tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của phương pháp phẫu thuật này trong việc điều trị chấn thương cột sống cổ thấp. Nghiên cứu nêu bật các kết quả lâm sàng, tỷ lệ thành công và những lợi ích mà bệnh nhân nhận được sau phẫu thuật, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về quy trình điều trị và những cải thiện trong chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu điều trị trượt đốt sống đoạn thắt lưng cùng một tầng bằng phẫu thuật vít cuống cung qua da và ghép xương, nơi trình bày các kỹ thuật phẫu thuật hiện đại trong điều trị chấn thương cột sống. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ thực trạng độc lập chức năng trong sinh hoạt hằng ngày và hiệu quả phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh sau đột quỵ não ở thành phố thái nguyên cũng sẽ cung cấp thông tin bổ ích về phục hồi chức năng cho bệnh nhân sau các chấn thương nghiêm trọng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp điều trị và phục hồi trong lĩnh vực y tế.