CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÈ KẾT HÔN CÓ YÉU TÓ NƯỚC NGOÀI 1. Cơ sở lý luận về kết hôn có yếu tố nước ngoài 1. Khái niệm, đặc điểm kết hôn có yếu tố nước ngoài 1. Khái niệm và đặc điểm của kết hôn * Khái niệm kết hôn Hôn nhân ra đời và phát triển, không ngừng biến đổi trong suốt lịch sử phát triển của loài người.
Quan điểm về hôn nhân khác nhau trên khắp thế giới, giữa các nền văn hóa và giữa các nền tôn giáo. Tương ứng với các trình độ phát triển xã hội khác nhau là các hình thức hôn nhân khác nhau. Trong chiều dài lịch sử đã có nhiều kiểu hôn nhân tồn tại: hôn nhân đa thê, hôn nhân đa phu, hôn nhân một vợ một chồng, hôn nhân đồng giới. Theo thời gian, hôn nhân đã được mở rộng và cũng bị hạn chế về đối tượng và các mối quan hệ liên quan.
Ngày nay, ở một số nơi trên thế giới, hôn nhân đa phu, đa thê, hôn nhân trẻ em được coi là một truyền thống văn hóa, ví dụ: đa thê là hợp pháp đối với người Hồi giáo tại Ân Độ; hôn nhân đa phu, đa thê là hợp pháp đối với một số quốc gia Bấc Phi; Theo thống kê của Quỳ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) năm 2017, khoảng 14% phụ nữ Indonesia kết hôn khi chưa tròn 18 và 1% kết hôn trước tuổi 15. Tỉ lệ này tương đương cứ 4 trẻ em gái ở Indonesia thì có 1 em kết hôn trước 18 tuối. [17], Ngược lại, ở một số nơi khác trên thế giới những hành vi như vậy bị coi là vi phạm pháp luật và bị phạt vì xâm phạm nữ quyền và xâm phạm trẻ em. Hôn nhân có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với gia đình mà còn đối với sự phát triển của xã hội.
Tùy vào điều kiện xã hội khác nhau và qua từng thời kỳ nhất định, hôn nhân cũng có sự biến đổi và được điều chỉnh bởi những quy định, chế tài phù hợp. về bản chất của hôn nhân, ở các nước theo theo hệ 8 thông pháp luật khác nhau thì cũng khác nhau. Tại các nước theo hệ thông common law coi hôn nhân là một loại hợp đồng dân sự: hôn nhân là sự thoả thuận giữa người đàn ông và một người đàn bà để thiết lập một quan hệ pháp lý, làm phát sinh và thực hiện các quyền, nghĩa vụ với nhau; Tại các nước theo hệ thống pháp luật thành văn cho rằng hôn nhân vừa là một hợp đồng vừa là một thiết chế pháp luật: hôn nhân là một hợp đồng xét trên khía cạnh hôn nhân là hành vi làm phát sinh quan hệ hôn nhân phải dựa trên nguyên tắc tự do thoả thuận giữa hai bên nam và nữ, hôn nhân là một thiết chế pháp luật xét ở khía cạnh về tình trạng pháp lý sau khi kết hôn, quan hệ giữa vợ và chồng và việc chấm dứt hôn nhân phải chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật [17]. Ở Việt Nam quan niệm rằng hôn nhân là một sự liên kết đặc biệt giữa một người đàn ông và một người đàn bà, không phụ thuộc vào tính toán vật chất, mà được dựa trên cơ sở tình yêu thương, quý trọng, bình đắng và tự nguyện; mục đích của hôn nhân là xây dựng mối quan hệ bền vững, đảm bảo thoả mãn nhu cầu tinh thần và vật chất chất của đôi bên, sinh đẻ và nuôi dưỡng, giáo dục con cái.
Theo Luật Hôn nhân và gia đinh năm 2014 thì: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn”. [5, khoản 1 Điều 3] Theo Từ điển giải thích luật học của trường Đại học Luật Hà Nội thì “Hôn nhân là sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đảng theo điều kiện và trình tự luật định, nhằm chung sống với nhau suốt đỏi và xây dựng gia đình hạnh phúc và hòa thuận Như vậy, khái niệm hôn nhân mặc dù có thể có rất nhiều cách hiếu khác nhau, song về cơ bản căn cứ vào các quy định về hôn nhân trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ta có thể hiểu: Hôn nhãn là sự liên kết giữa giữa nam và nữ nhằm xác lập quan hệ vợ chồng được pháp luật thừa nhận, phù họp với chuẩn mực đạo đức đê xây dựng gia đình. Mốc đánh dấu bắt đầu của hôn nhân là kết hôn. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Ket hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng 9 với nhau theo quy định của Luật này vê điêu kiện két hôn và đãng ký kêt hôn.
[5, khoản 5 Điều 3] Vậy, có thể thấy: dưới góc độ là một sự kiện pháp lý, kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng khi thỏa mãn các điều kiện kết hôn và thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; dưới góc độ là một quan hệ pháp luật, một chế định pháp lý, kết hôn xác lập quan hệ vợ chồng giữa hai bên nam và nữ, xác lập các chế định, các quyền và nghĩa vụ của hai bên. * Đặc điểm của kết hôn Từ khái niệm về kết hôn đã rút ra ở trên ta có thể rút ra các đặc điểm của kết hôn như sau: Thứ nhất, chủ thể của kết hôn là hai người nam và nữ. Kết hôn chỉ được tiến hành giữa hai bên chủ thế là nam và nữ, sự phát triển các xã hội trong lịch sử loài người đã ghi nhận đặc điểm này. Để xã hội phát triển thì phải duy trì nòi giống, đó là tất yếu trong lịch sử loài người.
Chủ thế của kết hôn là nam và nữ là thuận theo lẽ tự nhiên và phù hợp mục đích của kết hôn là xây dựng gia đinh, thực hiện chức năng sinh đẻ để duy trì nòi giống cho xã hội. Nếu kết hôn thực hiện giữa các chủ thể không khác nhau về giới tính thì không thể thực hiện chức năng sinh đẻ, duy trì nòi giống cho xã hội, không đạt được mục đích của kết hôn, không đúng theo quy luật phát triển tự nhiên của xã hội con người. Thứ hai, kết hôn phải có sự đồng thuận về ý chí của hai bên chủ thể. Điều này có ý nghĩa quyết định để hình thành quan hệ kết hôn, thể hiện ý chí tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng và cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ của chủ thể kết hôn.
Nếu kết hôn mà không có sự đồng thuận về ý chí cả hai chủ thể kết hôn có thể sẽ dẫn tới không đạt được mục đích của hôn nhân. Do đó, sự đồng thuận, ý chí tự nguyện của hai bên nam, nữ về việc xác lập quan hệ hôn nhân luôn luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, đây là tiền đề tiến tới quan hệ hôn nhân hợp pháp. 10 Thứ ba, kết hôn phải có sự thừa nhận của nhà nước. Đe được Nhà nước băo vệ thì kết hôn phải được nhà nước thừa nhận.
Hai chủ thể khi kết hôn phải đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được nhà nước thừa nhận. Sự thừa nhận của nhà nước là một bảo đảm về pháp lý đế bào vệ quyền lợi của các chù thể khi kết hôn trên cơ sở các quy định của pháp luật. Thứ tư, kết hôn chịu sự quy định pháp luật. Kết hôn là cơ sở xây dựng gia đinh - tế bào của xã hội.
Vì vậy, kết hôn không chỉ có ý nghĩa riêng tư mà còn có ý nghĩa xã hội. Đề bảo vệ gia đình và đảm bảo sự phát triển của toàn xã hội, pháp luật Hôn nhân và Gia đình của tất cả các quốc gia trên thế giới đều có quy định chặt chẽ về kết hôn, đặc biệt là quy định về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn để tạo khung pháp lý chặt chẽ điều chỉnh quan hệ này, đảm bảo ổn định • và trật • • ✓ an toàn xã hội. Khái niệm và đặc điểm của kết hôn có yếu tố nước ngoài * Khái niệm kết hôn có yếu tổ nước ngoài Kết hôn có yếu tố nước ngoài không phái là một loại quan hệ phổ biến tại Việt Nam trước đây. Tuy nhiên, trong hai thập niên gần đây, cùng với sự hội nhập kinh tế quốc tế, kéo theo hội nhập cả về văn hoá, xã hội, kết hôn có yếu tố nước ngoài mới phát triển và trở thành phổ biến ở một số nơi.
Như vậy, khi các quan hệ xã hội phát sinh thì cần thiết có sự điều chỉnh của pháp luật. Để đáp ứng nhu cầu của xã hội, bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền tự do kết hôn của công dân Việt Nam cũng như của người nước ngoài, Nhà nước Việt Nam rất quan tâm xây dựng hoàn thiện thể chế, chính sách, các quy định cụ thế về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tổ nước ngoài trong đó có các quy định về kết hôn cỏ yếu tố nước ngoài để thực hiện trong thực tế cuộc sống, giúp điều chỉnh quan hệ này. về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài, các quy định của pháp luật Việt Nam không có định nghĩa cụ thể. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không định nghĩa cụ thể về kết hôn có yếu tố nước ngoài, tuy nhiên tại khoản 25 Điều 3 Luật quy định: “Quan hệ hân nhân và gia đình cỏ yếu to nước 11 ngoài là quan hệ hôn nhãn và gia đình mà ỉt nhãt một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhãn và gia đình giữa các bên tham gia là công dãn Việt Nam nhưng căn cứ đế xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài Đồng thời, tại Điều 126 quy định: '7.
Trong việc kết hôn giữa công dãn Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thâm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn. Việc kết hôn giữa những người nước ngoài thường trú ở Việt Nam tại cơ quan có thâm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.