Tổng quan về luận án
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhinh (2021) tại Trường Đại học Thương Mại mang tên "Kế toán quản trị chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" (Chuyên ngành Kế toán, Mã số: 9340301; Người hướng dẫn: PGS. Trần Thị Hồng Mai và TS. Nguyễn Viết Tiến) giải quyết bài toán cấp thiết về quản trị tài chính - tác nghiệp trong một ngành kinh tế mũi nhọn. Ngành xây dựng đóng góp tỷ trọng lớn vào GDP nhưng luôn đối mặt với rủi ro vượt dự toán, biên lợi nhuận mỏng và tình trạng thiếu minh bạch thông tin do chu kỳ thi công kéo dài và tính phân tán địa lý phức tạp.
Khoảng trống nghiên cứu then chốt xuất phát từ sự bất cập sau 15 năm thực thi Thông tư 53/2006/TT-BTC. Các hướng dẫn mang tính khung chung chưa thích ứng với sự thay đổi của hệ thống định mức xây dựng, sự ra đời của Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế IFRS 15 và yêu cầu quản trị dữ liệu thời gian thực của Cách mạng Công nghiệp 4.0. Khảo sát thực nghiệm của Lê Thế Anh (2017) trên 522 doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông chỉ ra rằng 97,1% đơn vị chưa kiểm soát tốt chi phí, gây thất thoát nghiêm trọng. Đa số các công trình trước đây chỉ tiếp cận kế toán quản trị (KTQT) theo chu trình kỹ thuật kế toán (Nguyễn Vũ Việt, 2007) hoặc dừng lại ở thống kê mô tả (Hoàng Văn Tưởng, 2010; La Soa, 2016), bỏ quên mối quan hệ hữu cơ giữa chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh với nhu cầu ra quyết định chiến lược của ban điều hành.
Luận án đặt ra hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết tương ứng:
- Câu hỏi 1 (Q1): Thực trạng hệ thống KTQT chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh tại các công ty xây dựng niêm yết trên sàn HoSE và HNX đang vận hành như thế nào?
- Câu hỏi 2 (Q2): Những nhân tố nào thuộc môi trường bên trong và bên ngoài chi phối khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin KTQT của nhà quản trị?
- Câu hỏi 3 (Q3): Cần triển khai các giải pháp tích hợp kỹ thuật kế toán quản trị hiện đại nào để tối ưu hóa hiệu quả hoạt động kinh doanh xây lắp?
Hệ thống giả thuyết kiểm định mô hình gồm:
- H1: Mức độ nhận thức và cam kết của nhà quản trị tác động thuận chiều (+) đến khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin KTQT.
- H2: Trình độ và năng lực chuyên môn của đội ngũ nhân viên kế toán tác động thuận chiều (+) đến khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin KTQT.
- H3: Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và hệ thống hoạch định ERP tác động thuận chiều (+) đến khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin KTQT.
- H4: Mức độ phân cấp quản lý trong doanh nghiệp tác động thuận chiều (+) đến khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin KTQT.
- H5: Mức độ cạnh tranh trên thị trường xây thầu tác động thuận chiều (+) đến khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin KTQT.
Khung lý thuyết tích hợp được xây dựng dựa trên Lý thuyết Ngẫu nhiên (Contingency Theory), Lý thuyết Đại diện (Agency Theory), Lý thuyết Thể chế (Institutional Theory) và Mô hình 4 giai đoạn tiến hóa của IFAC (1998). Nghiên cứu thực hiện khảo sát trên 168 mẫu hợp lệ từ các công ty xây dựng niêm yết giai đoạn 2018-2020, tạo cơ sở thực nghiệm định lượng để tái cấu trúc hệ thống đo lường hiệu quả kinh tế xây dựng.
Literature Review và Positioning
Các công trình khoa học trong và ngoài nước về KTQT chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh phát triển qua ba trường phái tiếp cận chủ đạo:
Trường phái thứ nhất tiếp cận theo quy trình kỹ thuật kế toán (Nguyễn Vũ Việt, 2007; Văn Thị Thái Thu, 2008), tập trung vào tổ chức chứng từ, mở tiểu khoản tài khoản và sổ chi tiết. Quan điểm này đồng nhất KTQT với kế toán tài chính chi tiết, chỉ phản ánh dữ liệu tài chính quá khứ và không đáp ứng được yêu cầu dự báo, kiểm soát của nhà quản trị.
Trường phái thứ hai tiếp cận theo chu trình chức năng thông tin (Nguyễn Thị Thanh Loan, 2014; Chu Thị Bích Hạnh, 2016), phân định các khâu lập dự toán, thu thập, phân tích và cung cấp thông tin. Mặc dù làm rõ quy trình tác nghiệp, các nghiên cứu này chủ yếu vận dụng phương pháp kế toán truyền thống, chưa tích hợp các chỉ tiêu phi tài chính hay đánh giá hiệu quả theo trung tâm trách nhiệm.
Trường phái thứ ba tiếp cận theo chức năng quản trị (Bùi Tiến Dũng, 2018; Otley, Broadbent & Berry, 1995; Anthony & Govindarajan, 2007), nhấn mạnh vai trò của thông tin kế toán đối với việc lập kế hoạch, điều phối, kiểm soát và ra quyết định. Tuy vậy, các tác phẩm chưa lượng hóa được mức độ tương thích giữa cấu trúc thông tin cung cấp với hành vi của nhà quản trị theo từng loại hình hợp đồng xây lắp.
Trong y văn tồn tại cuộc tranh luận học thuật sâu sắc: Một bên cho rằng các kỹ thuật kế toán truyền thống (dựa trên định mức dự toán định sẵn) vẫn đủ hiệu quả cho ngành xây dựng do tính pháp lý chặt chẽ của đơn giá nhà nước (Bùi Mạnh Hùng, 2011; Đỗ Minh Thành, 2001). Ngược lại, trường phái hiện đại (Cokins, 2001; Glenn Ballard, 2007; Zimina et al., 2012) chứng minh phương pháp truyền thống làm sai lệch giá thành do phân bổ chi phí gián tiếp theo tiêu thức chủ quan, từ đó cổ vũ việc chuyển dịch sang Chi phí mục tiêu (Target Costing), Kaizen Costing và Kế toán chi phí dựa trên hoạt động (ABC).
So sánh với hai nghiên cứu quốc tế điển hình:
- Nghiên cứu của Hui Li (2009) tại Trung Quốc chỉ ra rằng kỹ sư công trường thường tách rời khâu kỹ thuật với kiểm soát chi phí vòng đời, khiến giai đoạn thiết kế (chiếm dưới 1% chi phí vòng đời nhưng quyết định trên 70% tổng chi phí dự án) bị buông lỏng quản trị giá thành.
- Công trình của Kenneth Kwame Aggor (2017) tại Ghana kiểm định định lượng trên 158 công ty xây dựng và khẳng định chất lượng dự toán tác động trực tiếp tới sự thành bại của dự án và khả năng cung cấp nhà ở giá hợp lý.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhinh định vị chính xác khoảng trống học thuật bằng cách tích hợp đồng thời ba cấu phần: Chi phí - Doanh thu - Kết quả kinh doanh gắn chặt với cơ chế khớp nối tiến độ hợp đồng IFRS 15, chuyển đổi từ mô hình kế toán ghi chép thụ động sang hệ thống kế toán quản trị chiến lược dựa trên dữ liệu định lượng.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng Lý thuyết Ngẫu nhiên của Otley (1980) và Chenhall (2003) vào bối cảnh các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại nền kinh tế mới nổi. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng không có một hệ thống KTQT chuẩn hóa đơn nhất áp dụng cho mọi doanh nghiệp; mức độ hiệu quả của KTQT phụ thuộc vào sự tương thích giữa môi trường cạnh tranh, quy mô vốn, mức độ phân cấp dự án và năng lực ứng dụng công nghệ ERP.
Nghiên cứu bổ sung cho Lý thuyết Đại diện (Jensen & Meckling, 1976) thông qua việc thiết lập cơ chế kiểm soát trách nhiệm giải trình giữa Ban Tổng Giám đốc và các Chỉ huy trưởng công trường. Mô hình KTQT chi phí, doanh thu và kết quả theo 4 trung tâm trách nhiệm (Trung tâm chi phí, Trung tâm doanh thu, Trung tâm lợi nhuận, Trung tâm đầu tư) giúp triệt tiêu bất đối xứng thông tin, hạn chế hành vi trục lợi hoặc báo cáo sai lệch khối lượng thi công dở dang. Đồng thời, nghiên cứu làm phong phú Lý thuyết Các bên liên quan (Freeman, 1984) bằng việc đưa chi phí môi trường và chi phí an toàn lao động vào nội dung thu thập của KTQT, đáp ứng tiêu chuẩn minh bạch của thị trường chứng khoán.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp bốn nền tảng lý thuyết: Lý thuyết Ngẫu nhiên, Lý thuyết Đại diện, Chuỗi giá trị của Michael Porter (1985) và Khung nguyên tắc kế toán quản trị toàn cầu (GMAP - AICPA/CIMA).
Mô hình khái niệm kết nối 5 biến độc lập với 1 biến phụ thuộc thông qua các phương trình hồi quy tuyến tính:
$$Y = \beta_0 + \beta_1 X_1 + \beta_2 X_2 + \beta_3 X_3 + \beta_4 X_4 + \beta_5 X_5 + \epsilon$$
Trong đó:
- $Y$: Khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin KTQT chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh.
- $X_1$: Nhận thức của nhà quản trị về vai trò KTQT.
- $X_2$: Trình độ và năng lực của đội ngũ kế toán.
- $X_3$: Ứng dụng công nghệ thông tin và giải pháp phần mềm quản trị.
- $X_4$: Mức độ phân cấp và ủy quyền quản lý dự án.
- $X_5$: Áp lực cạnh tranh trên thị trường xây thầu.
Điều kiện biên của mô hình được xác định rõ: Khung phân tích vận hành chuẩn xác đối với các công ty xây dựng đã niêm yết trên thị trường chứng khoán, chịu sự giám sát về công bố thông tin và sở hữu quy mô tổ chức quản lý dự án đa cấp.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng lập trường bản thể học khách quan và nhận thức luận thực chứng (Positivism) kết hợp phương pháp diễn giải thực tế (Interpretivism). Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp tuần tự (Sequential Mixed-Methods Design) được triển khai qua hai giai đoạn:
- Nghiên cứu định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu 15 chuyên gia gồm Giám đốc điều hành, Kế toán trưởng và Trưởng ban kiểm soát tại các tập đoàn xây dựng niêm yết quy mô lớn (Vinaconex, Licogi, Coteccons, Sông Đà). Mục tiêu là hiệu chỉnh thang đo Likert 5 mức độ từ các nghiên cứu quốc tế của Abdel-Kader & Luther (2008) và Jihène Ghorbel (2016) cho phù hợp với thực tiễn ngành xây dựng Việt Nam.
- Nghiên cứu định lượng: Khảo sát diện rộng thông qua bảng hỏi cấu trúc gửi tới 220 cá nhân quản lý tại các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên HoSE và HNX.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Chiến lược chọn mẫu xác suất kết hợp thuận tiện phân tầng được áp dụng với tiêu chí chọn mẫu rõ ràng: Doanh nghiệp thuộc phân ngành xây dựng dân dụng, công nghiệp hoặc hạ tầng giao thông đang giao dịch cổ phiếu trên sàn chứng khoán, có thời gian hoạt động tối thiểu 3 năm và có bộ máy kế toán chuyên trách.
Quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp thực hiện qua kênh trực tiếp và thư điện tử, thu về 185 phiếu, loại bỏ 17 phiếu không hợp lệ do thiếu thông tin, còn lại 168 phiếu đạt chuẩn (tỷ lệ phản hồi hợp lệ đạt 76,36%). Nghiên cứu thực hiện tam giác đạc dữ liệu (Data Triangulation) bằng cách đối chiếu thông tin khảo sát với báo cáo tài chính đã kiểm toán, bản cáo bạch và dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2017-2019 của các đơn vị như FPTS và VPBankS.
Kiểm định độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha cho tất cả các nhóm biến đều đạt giá trị từ 0,785 đến 0,912 (> 0,70); hệ số tương quan biến - tổng (Corrected Item-Total Correlation) của các biến quan sát đều vượt ngưỡng 0,40, khẳng định tính nhất quán nội tại cao của công cụ đo lường.
Data và phân tích
Dữ liệu được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho nhóm biến độc lập đạt chỉ số KMO = 0,846 (> 0,50), kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê cao ($p < 0,001$, Approximate Chi-Square = 1.842,56, $df = 210$). Tổng phương sai trích đạt 68,42% (> 50%) tại điểm dừng Eigenvalue = 1,235, trích xuất chuẩn xác 5 nhân tố với các hệ số tải nhân tố (Factor Loading) đều lớn hơn 0,55.
Kiểm định phương sai lạm phát (VIF) cho kết quả dao động từ 1,120 đến 1,450 (nhỏ hơn 2,0), loại trừ hoàn toàn nguy cơ đa cộng tuyến giữa các biến độc lập. Hệ số Durbin-Watson đạt 1,892 (nằm trong khoảng 1,5 đến 2,5), chứng minh mô hình không vi phạm hiện tượng tự tương quan chuỗi bậc nhất.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính bội cung cấp bằng chứng định lượng vững chắc với hệ số xác định hiệu chỉnh $R^2 = 0,562$, giải thích được 56,2% sự biến thiên của khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin KTQT:
- Nhận thức của nhà quản trị ($X_1$): Là nhân tố tác động mạnh mẽ nhất với hệ số hồi quy chuẩn hóa $\beta = 0,348$ ($p < 0,001$). Khi ban lãnh đạo hiểu rõ giá trị chiến lược của KTQT, mức độ đầu tư nguồn lực và tỷ lệ sử dụng báo cáo quản trị tăng thêm 34,8%.
- Trình độ nhân viên kế toán ($X_2$): Tác động mạnh thứ hai với $\beta = 0,276$ ($p = 0,001$). Năng lực xử lý dữ liệu chi phí và hiểu biết kỹ thuật công trình của kế toán viên quyết định trực tiếp đến độ tin cậy của thông tin quản trị.
- Ứng dụng công nghệ thông tin ($X_3$): Thể hiện tác động tích cực với $\beta = 0,218$ ($p = 0,004$). Việc khai thác phần mềm ERP và các module dự toán tích hợp giúp rút ngắn độ trễ thông tin từ 15-30 ngày xuống cập nhật theo thời gian thực.
- Mức độ cạnh tranh thị trường ($X_5$): Tác động có ý nghĩa với $\beta = 0,172$ ($p = 0,018$), chứng minh áp lực đấu thầu khốc liệt buộc doanh nghiệp phải tinh gọn giá thành.
- Mức độ phân cấp quản lý ($X_4$): Tác động với $\beta = 0,145$ ($p = 0,032$), chỉ ra việc trao quyền kiểm soát ngân sách cho giám đốc dự án thúc đẩy nhu cầu báo cáo chi tiết.
Về mặt thực trạng, nghiên cứu phát hiện nghịch lý: 91,2% doanh nghiệp phân loại chi phí theo chức năng truyền thống để lập báo cáo tài chính; chỉ có 14,8% doanh nghiệp nhận diện biến phí - định phí để phân tích điểm hòa vốn; 100% doanh nghiệp lập dự toán nhưng 82,4% là dự toán tĩnh phục vụ đấu thầu, hoàn toàn thiếu dự toán linh hoạt thích ứng với biến động giá thép và vật liệu xây dựng.
Implications đa chiều
Về mặt lý thuyết: Luận án mở rộng khung phân tích kế toán chi phí bằng việc tích hợp phương pháp Chi phí mục tiêu (Target Costing) và Kaizen Costing vào cấu trúc quản lý hợp đồng xây dựng, chứng minh sự tương thích của chuỗi giá trị Porter trong môi trường dự án xây lắp.
Về mặt phương pháp luận: Cung cấp bộ thang đo đã được chuẩn hóa và kiểm định nghiêm ngặt về các nhân tố chi phối hệ thống KTQT, có khả năng tái lập và ứng dụng cho các ngành kinh tế có đặc thù sản xuất đơn chiếc như đóng tàu, cơ khí nặng hay gia công phần mềm.
Về mặt thực tiễn doanh nghiệp:
- Tái cấu trúc quy trình ghi nhận doanh thu theo 5 bước của IFRS 15: Xác định hợp đồng, Nhận diện nghĩa vụ thực hiện riêng biệt, Xác định giá giao dịch, Phân bổ giá cho từng nghĩa vụ, và Ghi nhận doanh thu tương ứng với mức độ hoàn thành công việc.
- Ứng dụng kỹ thuật phân bổ chi phí ABC cho máy thi công và chi phí chung công trường, giúp loại bỏ hiện tượng trợ giá chéo giữa các hạng mục công trình.
- Thiết lập hệ thống báo cáo phân tích biến động chi phí (Variance Analysis) định kỳ theo tuần/tháng giữa thực tế với dự toán định mức tại các đơn vị như Licogi 13, Licogi 18 và Vinaconex 12.
Về mặt chính sách quản lý nhà nước: Đề xuất Bộ Tài chính ban hành Thông tư thay thế Thông tư 53/2006/TT-BTC, xây dựng cẩm nang hướng dẫn thực hành KTQT chuyên ngành cho doanh nghiệp xây dựng niêm yết, đồng thời chuẩn hóa hệ sinh thái định mức kinh tế kỹ thuật xây dựng quốc gia theo chuẩn mực quốc tế.
Limitations và Future Research
Nghiên cứu thẳng thắn thừa nhận các giới hạn học thuật:
- Giới hạn không gian và mẫu khảo sát: Dữ liệu tập trung vào các công ty xây dựng đã niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nơi có quy mô vốn và tính minh bạch cao hơn mặt bằng chung, do đó khả năng suy rộng kết quả cho khối doanh nghiệp xây dựng vừa và nhỏ (SMEs) chưa niêm yết cần được đánh giá thận trọng.
- Giới hạn phương pháp trắc lượng: Sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính cắt ngang (Cross-sectional OLS) chưa nắm bắt trọn vẹn sự biến thiên động theo chuỗi thời gian (Panel Data) của hiệu quả KTQT qua các chu kỳ suy thoái - bùng nổ của thị trường bất động sản.
- Nội dung KTQT bền vững: Chưa khảo sát định lượng sâu về hệ thống kế toán chi phí môi trường và kế toán nguồn nhân lực trong các công trình xanh (Green Building).
Chương trình nghiên cứu tương lai định hướng:
- Mở rộng kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính SEM/PLS-SEM trên tập mẫu liên ngành giữa xây dựng hạ tầng, bất động sản và vật liệu xây dựng.
- Ứng dụng phương pháp nghiên cứu tình huống dọc (Longitudinal Case Studies) để theo dõi hiệu quả tài chính sau khi triển khai hệ thống hoạch định ERP tích hợp mô hình thông tin công trình BIM (Building Information Modeling).
- Phát triển khung KTQT môi trường (Environmental Management Accounting - EMA) nhằm đo lường dấu chân carbon và chi phí xử lý phế thải xây dựng.
- Nghiên cứu tác động của trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa quy trình (RPA) trong tự động phân bổ chi phí và cảnh báo gian lận thi công.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án tạo ra dấu ấn học thuật rõ nét với 5 công trình công bố trên các tạp chí chuyên ngành danh tiếng và kỷ yếu hội thảo quốc tế (ICFAA 2019, ICYREB 2019, Tạp chí Kế toán và Kiểm toán). Đề tài đóng góp tài liệu tham khảo giá trị cho các chương trình đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán và Quản trị kinh doanh.
Đối với ngành xây dựng, các giải pháp tổ chức trung tâm trách nhiệm và định mức chi phí dự toán linh hoạt đã được tham vấn ứng dụng thử nghiệm tại Tổng công ty Licogi và Vinaconex, hỗ trợ ban điều hành giảm thiểu tỷ lệ thất thoát vật tư từ 3-5% và nâng cao độ chính xác trong định giá bỏ thầu.
Ở cấp độ quản lý vĩ mô, các luận cứ khoa học từ nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn vững chắc cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Bộ Tài chính trong việc thúc đẩy quản trị công ty minh bạch, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư đại chúng và nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam.
Đối tượng hưởng lợi
Hệ thống kết quả nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học giả: Tiếp cận bộ thang đo thực nghiệm chuẩn hóa, phương pháp tiếp cận đa lý thuyết và các khoảng trống nghiên cứu sâu về KTQT chuyên ngành.
- Ban Giám đốc và Hội đồng Quản trị các công ty xây dựng: Sở hữu cẩm nang thiết kế hệ thống báo cáo quản trị tác nghiệp, công cụ nhận diện rủi ro tài chính và phương pháp tối ưu hóa dòng tiền dự án.
- Kế toán trưởng và Chuyên viên KTQT: Được trang bị quy trình chi tiết về mã hóa tài khoản kế toán quản trị, kỹ thuật lập dự toán linh hoạt, bảng phân bổ chi phí ABC và cách thức hạch toán doanh thu theo IFRS 15.
- Cơ quan quản lý nhà nước và Hiệp hội Nhà thầu (VACC): Có luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế kế toán và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các nhà thầu Việt Nam trên trường quốc tế.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Đó là việc mở rộng Lý thuyết Ngẫu nhiên (Contingency Theory) kết hợp Lý thuyết Đại diện (Agency Theory) vào thiết kế hệ thống KTQT ba trục đồng bộ (Chi phí - Doanh thu - Kết quả) cho ngành xây lắp, chứng minh thực nghiệm rằng nhận thức của nhà quản trị là biến số quyết định mức độ hoàn thiện của hệ thống thông tin.
2. Điểm mới về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?
Khác với nghiên cứu của Hoàng Văn Tưởng (2010) và La Soa (2016) chỉ dừng lại ở thống kê mô tả, luận án sử dụng quy trình nghiên cứu hỗn hợp chuẩn mực, kết hợp EFA và hồi quy đa biến có kiểm soát đa cộng tuyến và tự tương quan trên tập mẫu doanh nghiệp niêm yết, đồng thời xây dựng bộ thang đo đo lường năng lực KTQT có độ tin cậy cao.
3. Phát hiện thực nghiệm nào gây bất ngờ nhất?
Phát hiện về sự đứt gãy giữa dữ liệu dự toán và kiểm soát chi phí thực tế: Mặc dù 100% doanh nghiệp lập dự toán nhưng có tới 82,4% không cập nhật biến động giá thực tế trong quá trình thi công, dẫn đến việc dự toán chỉ mang tính hình thức để nộp thầu thay vì đóng vai trò công cụ kiểm soát chi phí.
4. Nghiên cứu có cung cấp giao thức tái lập (Replication Protocol) không?
Có. Toàn bộ bảng hỏi khảo sát, hệ thống mã hóa biến quan sát, quy trình lọc mẫu và kết quả kiểm định EFA/Hồi quy trong các phụ lục cho phép các nhà nghiên cứu độc lập tái lập hoàn toàn quy trình khảo sát trên các thị trường tương đồng.
5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình ra sao?
Tập trung vào ba trọng tâm: (1) Số hóa KTQT trên nền tảng Big Data và ERP-BIM; (2) Kế toán chi phí môi trường và phát thải carbon trong xây dựng bền vững; (3) Mô hình tích hợp đo lường hiệu quả toàn diện qua Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard - BSC).
Kết luận
- Hệ thống hóa và phát triển toàn diện cơ sở lý luận về KTQT chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp xây dựng, kết hợp hài hòa giữa các lý thuyết ngẫu nhiên, đại diện và thể chế.
- Đánh giá bức tranh thực trạng chân thực và chỉ rõ những điểm nghẽn cốt lõi trong công tác kế toán quản trị tại các công ty xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.
- Xác lập và kiểm định thành công mô hình định lượng 5 nhân tố ảnh hưởng, khẳng định vai trò tối thượng của nhận thức nhà quản trị ($\beta = 0,348$) và năng lực kế toán viên ($\beta = 0,276$).
- Đề xuất gói giải pháp kỹ thuật đồng bộ: Ứng dụng IFRS 15, triển khai Target Costing, phân bổ chi phí ABC, lập dự toán linh hoạt và thiết lập báo cáo trách nhiệm theo 4 cấp trung tâm.
- Mở ra các hướng nghiên cứu học thuật mới về chuyển đổi số kế toán và kế toán môi trường, đóng góp thiết thực vào sự phát triển bền vững và minh bạch của ngành xây dựng Việt Nam.