Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Phát triển bền vững và quản lý rừng bền vững trên thế giới 1. Phát triển bền vững Vào đầu thập niên 80, thuật ngữ phát triển bền vững lần đầu tiên được sử dụng trong chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chương trình Liên Hiệp Quốc đề xuất, cùng với sự trợ giúp của UNESCO và FAO với nội dung “ Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới sự phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến mội trường sinh thái học”. Báo cáo này ghi rõ: "Phát triển bền vững làsự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tồn tại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai[33].
Nói cách khác, phát triển bền vững phải đảm bảo sự phát triển kinh tế có hiệu quả, xã hội công bằng và mội trường được bảo vệ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, các chính quyền, các tổ chức xã hội phải cùng nhau hợp tác nhằm dung hoà cả 3 mục tiêu Kinh tế - xã hội - môi trường. Khái niệm này sau này còn tiếp tục được mở rộng thêm và nội hàm của nó chứa sự bình đẳng giữa các nước giàu và nước nghèo, giữa các thế hệ. Thậm trí nó còn bao hàm sự cần thiết giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết đế áp dụng khái niệm phát triển bền vững.
Quản lý rừng bền vững và các tổ chức quản lý rừng bền vững Nỗ lực đầu tiên trong quản lý rừng bền vững được thực hiện là thành lập hệ thống rừng trang trại tại Hoa Kỳ (ATFS). Năm 1941, Hội Lâm Nghiệp Hoa Kỳ cam kết duy trì các khu rừng, khu vực đầu nguồn và nơi cư trú của động vật thực vật thông qua năng lực của đơn vị quản lý tư nhân. ATFS đã xây dựng các hướng dẫn và tiêu chuẩn cho các chủ sở hữu để đáp ứng nhu cầu trở thành trang trại có rừng được chứng nhận. Theo tiêu chuẩn và hướng dẫn này, các chủ đất rừng tư nhân phải xây dựng kế hoạch quản lý dựa trên các tiêu chuẩn môi trường chặt chẽ và phải thông qua xét duyệt của cán bộ lâm nghiệp tình nguyện của ATFS 5 năm một lần.
ATFS đã công nhận chứng chỉ cho 24 triệu mẫu Anh đất rừng thuộc sở hữu tư nhân và 90473 chủ sở hữu rừng tư nhân tại 46 tiểu bang [6]. Tiếp đó là Hội Đồng Quản Trị Rừng Thế Giới (FSC) được thành lập năm 1993, bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 25 quốc gia, bao gồm đại diện các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, ngành công nghiệp và cơ quan cấp chứng chỉ. Nhiệm vụ của FSC là thúc đẩy việc quản lý rừng trên thế giới một cách hợp lý về mặt môi trường, có lợi ích về mặt xã hội và có thể thực hiện về mặt kinh tế. FSC đã đẩy mạnh việc áp dụng những tiêu chuẩn và tiêu chí về quản lý rừng đối với tất cả các loại rừng trên Thế giới thông qua một chương trình uỷ nhiệm tình nguyện cho các cơ quan cấp chứng chỉ.
Cùng với sự ra đời của FSC, một loạt các tổ chức khác cũng được thành lập, như PAN-EUROPEAN ở châu Âu (có trụ sở ở Helsinki); CIFOR (Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế) cấp chứng chỉ cho rừng tự nhiên nói chung; ITTO (Tổ chức quốc tế gỗ nhiệt đới) cấp chứng chỉ cho rừng tụ nhiên nhiệt đới. Cộng đồng quốc tế đã tổ chức nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều công ước bảo vệ và phát triển rừng bền vững, như Chiến lược bảo tồn quốc tế (1980); Hội nghị của Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển (1992); Công ước buôn bán động thực vật quý hiếm (CITET); Công ước đa dạng sinh học (CBD)., Từ đó nhiều định nghĩa về QLRBV đã được đưa ra, tuy nhiên hai định nghĩa phổ biến nhất và được công nhận rộng rãi nhất là của ITTO và của tiến trình Hensiki. Theo ITTO “ Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phần ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất trong tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội”. Theo tiến trình Helsinki “ Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác”.
Các định nghĩa trên đều tập trung vào các vấn đề chính là: Quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra, đảm bảo bền vững kinh tế, môi trường và xã hội. Các yếu tố QLRBV là: (i) Có khuôn khổ chính sách và pháp lý; (ii) Sản xuất bền vững (iii); Bảo vệ được môi trường; (iv) Đảm bảo lợi ích con người[5]. Trên thế giới có các bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững cấp quốc gia như ở Canada, Malaysia, Indoneixa., và cấp quốc tế như của tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal, FSC và ITTO được vận dụng rất rộng rãi để đánh giá quản lỷ rừng ở nhiều nước. Tuy nhiên, theo bản báo cáo của ITTO đã thừa nhận FSC “Gần như là chương trình duy nhất về gắn nhãn hiệu và uỷ quyền đối với lâm phần trên toàn thế giới”.
Số lượng ít ỏi các cơ quan được cấp chứng chỉ rừng do FSC uỷ quyền trước đây đã là một hạn chế trong việc phát triển chứng chỉ gỗ và ngày nay đã được FSC khắc phục hậu quả bằng việc gia tăng uỷ quyền cho các tổ chức cấp chứng chỉ rừng. Hiện nay có 31 tổ chức được FSC uỷ quyền cấp chứng chỉ FSC, thời hạn chứng chỉ mỗi lần cấp có hiệu lực 5 năm và luôn kiểm tra chất lượng. Tiêu chuẩn cấp chứng chỉ có 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí, các tiêu chí vẫn luôn được xem xét, cân nhắc để chỉnh sửa thông qua đề đạt của các thành viên FSC và lấy biểu quyết trong các kỳ đại hội[39]. Hội đồng PEFC (Chương trình chứng nhận các tổ chức chứng chỉ rừng) là một tổ chức độc lập, phi lợi nhận, phi chính phủ được thành lập năm 1999, hoạt động thúc đẩy quản lý rừng bền vững thông qua việc chứng nhận độc lập.
PEFC đưa ra cơ chế đảm bảo với những người thu mua sản phẩm và giấy rằng họ đang xúc tiến công tác QLRBV. PEFC là chương trình quy mô toàn cầu về đánh giá và công nhận lẫn nhau của các tổ chức chứng chỉ quốc gia đã được phát triển trong quá trình có các bên tham gia[6]. Chứng chỉ rừng và chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm Vấn đề cấp chứng chỉ rừng chỉ là một biện pháp để đảm bảo quản lý rừng bền vững tuy nhiên nó cũng không thể thay thế hoàn toàn các công cụ khác như hệ thống pháp luật, giáo dục và tuyên truyền. Chứng chỉ rừng tác động vào đơn vị quản lý rừng, do đó không ảnh hưởng đến lập kế hoạch sử dụng đất và chính sách quốc gia.
Việc sử dụng các công cụ kinh tế để bảo vệ môi trường được các chuyên gia kinh tế và các Tổ chức Hợp tác Phát Triển Kinh Tế (OECD) và ngân hàng Thế Giới khuyến khích trong hai thập kỷ qua. Chứng chỉ rừng đảm bảo rằng tất cả các hoạt động lâm nghiệp cần thực hiện với sự đồng thuận của các nhóm dân tộc hoặc cộng đồng địa phương. Về kinh tế chủ rừng phải cố gắng đạt được việc sử dụng tối ưu và chế biến tại chỗ các sản phẩm đa dạng của rừng, nhưng chủ rừng cũng phải đảm bảo giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường nơi khai thác và chế biến. Sản phẩm khi có dấu chứng nhận hợp chuẩn của chứng chỉ rừng thì sẽ được cộng đồng tiêu thụ đánh giá tốt hơn, chấp nhận mua với giá cao hơn.
Chứng chỉ rừng không chỉ làm thay đổi giá trị của hàng hoá mà trong nhiều trường hợp nó còn làm thay đổi thái độ của doanh nghiệp với rừng nói riêng và môi trường nói chung. Chứng chỉ rừng hỗ trợ rất nhiều cho vấn đề quản lý rừng bền vững không những nó đem lại lợi ích cho doanh nghiệp chế biến lâm sản mà cả những đơn vị trồng rừng cũng được hưởng lợi khi có chứng nhận này[1]. Tính đến thời điểm tháng 3 năm 2012 đã có trên 80 quốc gia với diện tích 166 triệu ha được cấp chứng chỉ rừng (WWF, 2012). Tuy nhiên diện tích đạt được chứng chỉ FSC chủ yếu ở các nước Châu Âu và Bắc Mỹ, và đang có xu thế mở rộng sang Châu Á, Châu Phi và Châu Úc Hội đồng chứng nhận gỗ Malaysia (MTCS) sử dụng phương pháp theo từng giai đoạn khi ngày càng nhiều thách thức lớn trong quản lý các khu rừng nhiệt đới.
Ban đầu tiêu chuẩn sử dụng để đánh giá các đơn vị quản lý rừng cho mục tiêu chứng chỉ, các tiêu chí, các hoạt động và phục vụ cho chứng chỉ quản lý rừng dựa theo tiêu chuẩn của ITTO năm 1998 và những tiêu chuẩn phục vụ quản lỷ rừng bền vững. Cuối năm 2005 MTCS sử dụng tiêu chuẩn của Malaysia và các tiêu trí cho chứng chỉ rừng bao gồm 9 nguyên tắc, 47 tiêu chuẩn và 6 tiêu trí. MTCS có 10 thành viên chỉ hoạt động trong phạm vi lãnh thổ Malaysia với diện tích được cấp chứng nhận 4,8 triệu ha[6]. Tổ chức Lembaga Ekolanbel Indoneisia (LEI) được thành lập năm 1994 là một tổ chức không được chính thức công nhận bởi FSC vì LEI không phải là cơ quan cấp chứng chỉ, song LEI là một cơ quan được thừa nhận một cách chính thức của các cơ quan cấp chứng chỉ của Malaysia.
Hiện nay đơn vị này đã cấp được 5 chứng chỉ với diện tích 885.000ha rừng tự nhiên và một chứng chỉ rừng trồng với diện tích 159. FSC là tổ chức uy tín nhất và chứng chỉ FSC được mọi thị trường chấp nhận kể cả Bắc Mỹ và Tây Âu.