CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Các vấn đề liên quan tới huy động nguồn lực tài chính (huy động vốn) đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới, nhưng đến nay vẫn luôn có tính thời sự. Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và trạng thái kinh tế hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh nguồn lực đầu tư ngày càng khan hiếm, các nước cũng như Chính phủ Việt Nam đã tăng cường công tác quản lý và tái cơ cấu đầu tư công thì việc tìm kiếm các giải pháp, các kênh huy động vốn, các nguồn lực tài chính để đầu tư hạ tầng kinh tế xã hội đối với các chính quyền địa phương là một chủ đề được quan tâm của giới nghiên cứu. Có nhiều cách tiếp cận trong huy động nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế xã hội nói chung. Theo cách tiếp cận khu vực kinh tế, nguồn lực tài chính được thu hút từ ba khu vực: kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân (ngoài nhà nước) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Từ năm 2010 đến nay, với lĩnh vực hạ tầng kinh tế xã hội, nhiều nhà khoa học đã có những nghiên cứu về huy động nguồn lực tài chính từ khu vực tư, nhất là việc huy động theo hình thức hợp tác công tư PPP. Có khá nhiều các nghiên cứu về việc thu hút nguồn lực tài chính từ các khu vực kinh tế. Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước phần lớn tập trung vào mảng huy động nguồn lực tài chính từ khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế nước ngoài. Với kinh tế nhà nước, các nghiên cứu tập trung vào hoạt động huy động nguồn lực tài chính thông qua việc phát triển các kênh huy động như thuế, phí, viện trợ phát triển chính thức ODA, nguồn lực tài chính từ đất đai.
Với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, các nghiên cứu tập trung vào các giải pháp thu hút nguồn lực tài chính đầu tư nước ngoài gián tiếp qua thị trường chứng khoán và thu hút vốn đầu tư trực tiếp FDI. Việc huy động và sử dụng nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân được nghiên cứu lồng ghép trong những nghiên cứu về sự phát triển của kinh tế tư nhân nóichung (mà chủ yếu là sự phát triển doanh nghiệp tư nhân) hay các nghiên cứuvề huy động và sử dụng nguồn lực tài chính nói chung như huy động tiết kiệm từ dân cư, kiều hối. 8 Có thể chia các nghiên cứu đã có liên quan tới đề tài nghiên cứu thành các nhóm: (1) Nhóm các nghiên cứu đề cập đến huy động nguồn lực tài chính nói chung; (2) Nhóm các nghiên cứu chỉ tập trung vào một hoặc một vài kênh huy động nguồn lực tài chính; (3) Nhóm các nghiên cứu đề tập đến huy động nguồn lực tài chính thông qua hình thức hợp tác công tư PPP. Các nghiên cứu đề cập đến huy động nguồn lực tài chính nói chung Thời gian qua, việc khai thác và huy động các nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế xã hội là đề tài được nhiều học giả, nhà quản lý các cấp quan tâm.
Nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung đi sâu vào các công cụ, các kênh huy động nguồn lực tài chính mà Nhà nước có thể sử dụng để huy động vốn cho nền kinh tế như: các kênh huy động vốn qua ngân sách nhà nước, phát hành trái phiếu, huy động vốn ODA, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, thu hút tiền gửi qua hệ thống ngân hàng,… Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này lại nghiên cứu đến huy động nguồn lực tài chính nói chung từ nhiều kênh, nhiều nguồn khác nhau. Ưu điểm của cách tiếp cận này cho phép chúng ta có cách nhìn tổng quát về huy động nguồn vốn cho đầu tư phát triển xã hội. Tuy nhiên, do đề cập tổng quát nên nó không có điều kiện đi sâu vào phân tích các vấn đề, các góc độ khác nhau của từng kênh huy động, từng nguồn lực tài chính khác nhau và nhất là tại các địa bàn đặc thù mang tính chất thí điểm, thử nghiệm. Đặc biệt, các nghiên cứu này chưa làm rõ cơ cấu huy động nguồn lực tài chính cho đầu tư và cơ cấu sở hữu (sở hữu công, sở hữu tư, hợp tác công tư) để đề ra các cơ cấu huy động nguồn lực tài chính tối ưu cho chủ đầu tư hoặc nhà thầu trong suốt một chu kỳ hoặc vòng đờicủa các dự án đầu tư hạ tầng kinh tế xã hội.
Trên cơ sở phân tích chung về huy động nguồn lực tài chính, các nghiên cứu này đưa ra các giải pháp bao hàm nhiều mặt, liên quan nhiều kênh huy động, nhiều nguồn lực tài chính khác nhau. Một số nhóm các giải pháp được đưa như sau: - Tiếp tục thực hiện chủ trương, chính sách đa dạng hóa và đa phương hóa các giải pháp huy động nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển; kênh huy động nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước, phát hành công trái, trái phiếu Chính phủ. - Việc nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, chống thất thoát và tham nhũng trong các dự án cần tránh đầu tư dàn trải là giải pháp rất quan trọng. 9 - Rà soát, bổ sung và hoàn thiện các quy định về quản lý và sử dụng vốn ODA; phân định rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành trong quản lý nguồn vốn tài trợ này.
Vốn ngân sách nhà nước, vốn tài trợ quốc tế và các nguồn vốn khác cho vay xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, hỗ trợ sinh viên nghèo vay vốn học tập, cho các mục tiêu chính sách xã hội khác,. chủ yếu cần được tập trung qua hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội để giải ngân cho các đối tượng theo quy định. - Đẩy mạnh việc sắp xếp lại các DNNN, thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển, khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho các công ty cổ phần niêm yết cổ phiếu và huy động vốn trên thị trường chứng khoán. - Tiếp tục đổi mới lĩnh vực thanh toán, mở rộng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt để huy động khối lượng vốn rất lớn trong xã hội vào hệ thống ngân hàng và tiết kiệm các khoản chi cho các hoạt động tiền mặt, góp phần hạn chế tham nhũng, tiêu cực trong xã hội.
- Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước để tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, thông thoáng và lành mạnh cho các NHTM và tổ chức tín dụng hoạt động cho phép huy động khối lượng vốn rất lớn và nâng cao hiệu quả cho vay đầu tư. - Tiếp tục đổi mới xây dựng và điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ. Đổi mới các hoạt động khác của Ngân hàng Nhà nước, như: điều hành thị trường mở, thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc, đổi mới thanh toán và mở rộng thanh toán điện tử liên ngân hàng, các hoạt động có liên quan đến sự phát triển của thị trường vốn. Các nghiên cứu về các kênh huy động nguồn lực tài chính Cho đến nay, có nhiều nghiên cứu về huy động nguồn lực tài chính tập trung vào một hoặc một vài kênh huy động nguồn lực tài chính cụ thể như: kênh thu hút tiền tiết kiệm tại ngânhàng, qua thị trường chứng khoán, phát hành trái phiếu, huy động nguồn lực tài chính thông qua hình thức hợp tác công tư,… Ưu điểm của các nghiên cứu này là tập trung vào một kênh huy động nguồn lực tài chính cụ thể để có thể phân tích sâu về các khía cạnh cụ thể, kỹ thuật của kênh huy động đó.
Tuy nhiên, các nghiêncứu chỉ tập trung vào một kênh huy động cụ thể, bỏ qua những kênh huy động quan trọng khác. 10 Có khá nhiều các nghiên cứu nước ngoài theo hướng này, trong đó có thể kể đến, chẳng hạn như tác giả Ang James (2010), nghiên cứu về kinh nghiệm huy động nguồn lực tài chính qua kênh tiết kiệm ở Malaysia và mối liên hệ của nó với sự phát triển và tự do hóa tài chính, từ đó rút ra các bài học về huy động vốn. Tác giả đã sử dụng lý thuyết vòng đời để ước lượng hàm tiết kiệm trên cơ sở đưa vào các biến số thể chế của nền kinh tế Malaysia, tập trung vào vai trò của các yếu tố tài chính. Các kết quả cho thấy độ sâu tài chính, mạng lưới và mật độ ngân hàng có xu hướng thúc đẩy tiết kiệm.
Tự do, hóa tài chính và sự phát triển của thị trường bảo hiểm cũng hỗ trợ huy động tiết kiệm ở Malaysia [76]. Erinc Yeldan (2005) tập trung đánh giá về kênh huy động nguồn lực tài chính thông qua quá trình tư nhân hóaở Thổ Nhĩ Kỳ trong các ngành công nghiệp chủ chốt. Quá trình tư nhân hóa ởThổ Nhĩ Kỹ bắt đầu từ giữa những năm 1980 theo đường lối “đồng thuận Washington” và cách thứcchủ yếu ở Thổ Nhĩ Kỳ là giảm đầu tư nhà nước vào các doanh nghiệp nhà nước cần tư nhân hóa. Bằng cách đó, nhà nước buộc các doanh nghiệp nàylàm ăn kém hiệu quả và phải bán rẻ cho các nhà đầu tư tư nhân nước ngoàichứ không phải các nhà đầu tư trong nước[75].
Huy động nguồn lực tài chính tập trung vào ngân sách nhà nước Nguyễn Thanh Nuôi (1996), nghiên cứu huy động vốn tín dụng nhà nước để đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế nhưng với phạm vi nghiên cứu và tầm giải quyết vấn đề ở tầm quốc gia. Ngô Thị Năm (2002), đề cập đến huy động vốn đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế xã hội nói chung bao gồm: hạ tầng công, nông nghiệp, giao thông,… và nghiên cứu trên phạm vi địa bàn thành phố Hà Nội. Phan Tú Lan (2002) nghiên cứu về huy động và quản lý vốn đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị cả nước, lấy ví dụ địa bàn thành phố Hà Nội [5, tr. Chương trình cấp nhà nước KX-02, Võ Trí Thành (2006), Chiến lược huy động và sử dụng vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, nghiên cứu thực trạng tiết kiệm, đầu tư và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam, giai đoạn 1986-2005 thông qua các nhân tố: ổn định kinh tế vĩ mô, hệ thống tín dụng ngân hàng, thị trường vốn, chính sách thương mại, đầu tư nhà nước và doanh 11 nghiệp nhà nước, đầu tư tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nguồn vốn con người.
Công trình cũng đã dự báo nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2006-2010 bằng một số mô hình định lượng trên cơ sở các kịch bản khác nhau [17, tr.