phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của tổ chức kiểm toán nội bộ tại các Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Chƣơng 2. Thực trạng tổ chức kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex Chƣơng 3. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex 3 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 1. Khái quát về Ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam 1. Khái niệm và chức năng của Ngân hàng thƣơng mại Vào những năm 80 của thế kỷ 20, hệ thống Ngân hàng kinh doanh ở các nƣớc đã phát triển mạnh.
Nhiều Ngân hàng quy mô lớn, xuyên quốc gia đƣợc thiết lập với các chi nhánh hoạt động trong nƣớc và ở các nƣớc ngoài. Công nghệ kỹ thuật ngân hàng hiện đại đƣợc ứng dụng trong giao dịch nghiệp vụ và trong quản lý hệ thống ngân hàng. Các tổ chức tài chính, ngân hàng quốc tế nhƣ: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB),. đƣợc hình thành đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc phối hợp xây dựng thực thi chính sách tài chính – tiền tệ giữa các nƣớc, khơi thông các dòng vốn, góp phần hữu hiệu vào sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và cộng đồng các quốc gia trên thế giới [5, tr.
Trên thế giới đã có nhiều định nghĩa về Ngân hàng thƣơng mại với những cách nhìn nhận khác nhau, chẳng hạn: * Ở Mỹ: NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính. * Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp thƣờng xuyên nhận của công chúng dƣới hình thức tiền gửi hay hình thức khác và họ dùng vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. * Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở xác nhận các khoản tiền gửi để cho vay, tài trợ và đầu tƣ. Ở Việt Nam, theo Luật Ngân hàng Nhà nƣớc và Luật các tổ chức tín dụng thì Ngân hàng thƣơng mại là một loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
4 Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. Từ đó, có thể hiểu Ngân hàng thƣơng mại là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ - tín dụng, với hoạt động thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân. Chức năng của Ngân hàng thương mại: - Chức năng trung gian tín dụng: Khi thực hiện chức năng này, ngân hàng đóng vai trò là “cầu nối” giữa ngƣời dƣ thừa vốn và ngƣời có nhu cầu vốn.
Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế bằng nhiều hình thức, NHTM hình thành quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là ngƣời đi vay vừa đóng vai trò là ngƣời cho vay. Đây đƣợc xem là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thƣơng mại quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đồng thời cũng là cơ sở để thực hiện các chức năng khác.13] - Chức năng trung gian thanh toán: NHTM làm trung gian thanh toán khi thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhƣ trích tiền từ tài khoản tiền gửi thanh toán của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác. NHTM đóng vai trò là ngƣời “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là ngƣời giữ tài khoản của họ và thực hiện các lệnh chi của khách hàng.
Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế - xã hội. NHTM cung ứng cho khách hàng nhiều phƣơng tiện thanh toán tiện lợi tùy theo nhu cầu lựa chọn của khách hàng giúp khách hàng tiết kiệm đƣợc chi phí, thời gian và đảm bảo đƣợc thanh toán an toàn. Chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng 5 thông qua việc thu phí thanh toán, tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dƣ Có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng.14] - Chức năng tạo tiền: Nguồn vốn của NHTM huy động đƣợc thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản đối với khách hàng của mình để thanh toán cho khách hàng của ngân hàng khác tạo nên số tiền gửi (tức tiền tín dụng). Cứ nhƣ thế số tiền này đƣợc vận hành qua nhiều NHTM sẽ làm cho nó lớn lên gấp nhiều lần số ban đầu.
Mức mở rộng tiền gửi này phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi. Hệ số này chịu tác động bởi yếu tố tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Nhƣ vậy, quá trình tạo tiền trên chỉ có thể thực hiện đƣợc khi có sự tham gia của cả hệ thống NHTM chứ bản thân một NHTM không thể tạo ra đƣợc. Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng phƣơng tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
Rõ ràng khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do NHNN phát hành mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là lƣợng tiền ghi sổ do các NHTM tạo ra.15] Các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng. Phân loại Ngân hàng thƣơng mại Hệ thống NHTM có thể đƣợc phân loại dựa theo một số tiêu chí sau đây: - Dựa theo tính chất sở hữu Theo tính chất sở hữu, hệ thống NHTM có thể đƣợc phân chia nhƣ sau: * Ngân hàng thƣơng mại Nhà nƣớc: Là những NHTM thuộc quyền sở hữu của Nhà nƣớc, đƣợc Nhà nƣớc cấp vốn và chịu sự quản lý của Nhà nƣớc. Những ngân hàng loại này có thể là do Nhà nƣớc lập mới hoặc có thể do Nhà nƣớc quốc hữu hóa từ các NHTM cổ phần.
6 * Ngân hàng thƣơng mại thuộc các loại hình thức khác nhƣ: Ngân hàng thƣơng mại cổ phần, các ngân hàng thƣơng mại tƣ nhân hoặc các ngân hàng liên doanh. - Dựa theo lĩnh vực hoạt động: Ngân hàng thƣơng mại kinh doanh thông thƣờng và Ngân hàng thƣơng mại chính sách. Trong đó, các ngân hàng kinh doanh thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận thông thƣờng. Hoạt động kinh doanh này có thể chỉ bao gồm các nghiệp vụ ngân hàng đơn thuần, bên cạnh đó cũng có những ngân hàng tổng hợp, thực hiện hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể là tự bản thân ngân hàng thực hiện, cũng có thể là thông qua các công ty do ngân hàng này lập ra.
Vai trò của Ngân hàng thương mại: - Góp phần nâng cao hiệu quả và phát triển kinh doanh. - Góp phần thực hiện chƣơng trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. - Vừa là nơi tạo môi trƣờng, vừa là nơi thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. - Là cầu nối giữa nền kinh tế quốc dân với kinh tế quốc tế.
Các đặc trƣng cơ bản của Ngân hàng thƣơng mại ảnh hƣởng đến tổ chức kiểm toán nội bộ Thứ nhất, hoạt động kinh doanh của NHTM là một loại hình kinh doanh có nhiều rủi ro hơn các loại hình kinh doanh khác và thƣờng có ảnh hƣởng lớn đến các ngành khác và cả nền kinh tế. Các rủi ro mà NHTM phải đối mặt là rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán, rủi ro lãi suất,. Để tránh các rủi ro có thể xảy ra, nhằm kiểm soát, làm nhẹ những tổn hại do các Ngân hàng gây ra, Chính phủ đã đặt ra những đạo luật riêng, nhằm đảm bảo cho hoạt động này đƣợc vận hành an toàn, hiệu quả trong nền kinh tế. Đối với các NHTM thì việc quản trị rủi ro có vai trò vô cùng quan trọng.
Để quản trị đƣợc rủi ro, các NHTM phải thiết lập và duy trì thƣờng xuyên một hệ thống kiểm soát rủi ro, đồng thời các nhà quản lý phải có kiến thức, kỹ năng cần thiết để có thể giám sát và quản lý rủi ro. Đối với KTNB, việc đánh giá, đo lƣờng, phân tích rủi ro là việc rất quan trọng để xác định đối tƣợng ƣu tiên kiểm 7 toán cũng nhƣ việc thực hiện các thủ tục kiểm toán phù hợp khi thực hiện kiểm toán. Hơn nữa, KTNB cũng cần phải lƣu ý trong việc đảm bảo tuân thủ các quy định của các cơ quan quản lý đối với hoạt động KTNB. Thứ hai, các NHTM thƣờng quản lý và thực hiện giao dịch với khối lƣợng tài sản lớn chủ yếu là các khoản mục tiền tệ bao gồm tiền mặt và giấy tờ có giá.
Các loại tài sản này làm cho các NHTM dễ nảy sinh các vấn đề về gian lận, vƣợt thẩm quyền. Do đó, các NHTM thƣờng phải thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ nghiêm khắc với các quy trình nghiệp vụ chặt chẽ và rõ ràng. KTNB đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích, đánh giá, phát hiện các lỗ hổng trong các quy trình nghiệp vụ và đƣa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy trình để đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTM. Thứ ba, các NHTM liên tục phát triển những sản phẩm mới, những công cụ tài chính mới do sức ép cạnh tranh của thị trƣờng.
Những sản phẩm này thƣờng có mức độ rủi ro cao do thƣờng đi trƣớc những nguyên tắc kế toán, kiểm toán cũng nhƣ các quy tắc giám sát khác. Do đó, KTNB cần phải đƣợc hoàn thiện cả về phƣơng pháp, kỹ thuật và trình độ để đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tế.