Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam phát triển và hội nhập quốc tế, tình hình tội phạm xâm phạm quyền sở hữu, đặc biệt là tội phạm trộm cắp tài sản, có diễn biến ngày càng phức tạp. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin, người phạm tội sử dụng các phương thức, thủ đoạn tinh vi, tổ chức chặt chẽ hơn, gây nhiều khó khăn cho công tác điều tra, khám phá tội phạm.

Khám nghiệm hiện trường là hoạt động điều tra ban đầu, có ý nghĩa mở đầu và đóng vai trò quyết định đối với toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự. Trong các vụ án trộm cắp tài sản, hiện trường thường để lại nhiều dấu vết, vật chứng có giá trị chứng minh tội phạm và truy nguyên đối tượng. Tuy nhiên, nếu hoạt động khám nghiệm không được tiến hành kịp thời, khách quan, toàn diện và chính xác thì có thể dẫn đến nhận định sai lầm, bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội. Trên thực tế, hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh công tác này còn một số điểm mâu thuẫn, chồng chéo; thực tiễn tiến hành khám nghiệm còn bộc lộ nhiều bất cập, sai sót kỹ thuật.

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học Điều tra tội phạm của tác giả Trần Thị Châu Loan (người hướng dẫn: TS. Trần Thị Thu Hiền, năm 2024) tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:

  1. Hệ thống hóa có chọn lọc những vấn đề lý luận cơ bản về khám nghiệm hiện trường trong các vụ án trộm cắp tài sản.
  2. Phân tích thực trạng công tác khám nghiệm hiện trường các vụ án trộm cắp tài sản tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2017 đến giữa năm 2023 nhằm chỉ ra kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.
  3. Đề xuất hệ thống các giải pháp mang tính khả thi nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác khám nghiệm hiện trường đối với loại án này trong thực tiễn.
  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, chiến thuật khám nghiệm hiện trường trong các vụ án trộm cắp tài sản và thực trạng hoạt động này tại Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Phạm vi cả nước.
    • Thời gian: Khảo sát thực tiễn hoạt động khám nghiệm từ năm 2017 cho đến giữa năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên hệ thống cơ sở pháp lý và lý luận nghiệp vụ điều tra hình sự:

  • Văn bản pháp luật: Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 (đặc biệt là Điều 37, Điều 133, Điều 178, Điều 201); Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 173 về Tội trộm cắp tài sản); Thông tư số 61/2017/TT-BCA ngày 14/12/2017 của Bộ Công an (quy định biểu mẫu hồ sơ khám nghiệm hiện trường); Thông tư số 81/2021/TT-BCA ngày 26/7/2021 của Bộ Công an (quy định phân công trách nhiệm và phối hợp trong công tác khám nghiệm hiện trường); Quyết định số 57/2001/QĐ-BCA(C11) của Bộ trưởng Bộ Công an.
  • Khái niệm và nguyên lý nền tảng: Định nghĩa khám nghiệm hiện trường theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân (2005) và giáo trình Khoa học hình sự, tập 3 (NXB CAND, 2012); nguyên lý tiếp xúc của Edmond Locard ("Mọi sự tương tác đều để lại dấu vết"); các công trình nghiên cứu kỹ thuật và chiến thuật hình sự của Barry A.J. Fisher (1997), Trần Đại Quang và Nguyễn Xuân Yêm (2012), Trần Hòa (1992), Ngô Sỹ Hiền (2007), Ngô Tiến Quý (2007).
  • Phương pháp nghiên cứu: Đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm phân tích, tổng hợp, diễn giải, so sánh và thống kê hình sự.
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo tổng kết công tác kỹ thuật hình sự năm 2017 của Viện Khoa học hình sự (Bộ Công an); tài liệu, số liệu tổng kết từ các vụ án, chuyên án thực tế của lực lượng Kỹ thuật hình sự và Cảnh sát điều tra tại các địa phương (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Quảng Nam...).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về khám nghiệm hiện trường trong các vụ án trộm cắp tài sản

Chương 1 làm rõ các khái niệm nền tảng, khẳng định khám nghiệm hiện trường là biện pháp điều tra tố tụng đặc thù nhằm phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản và đánh giá dấu vết, vật chứng tại nơi xảy ra hoặc nơi phát hiện tội phạm. Hiện trường các vụ án trộm cắp tài sản mang 4 đặc điểm cơ bản:

  1. Dấu vết phản ánh động cơ, mục đích và diễn biến hành vi: Bao gồm dấu vết rình mò, đột nhập, cậy phá, lục soát, vận chuyển và tẩu thoát.
  2. Phạm vi rộng và cấu trúc phức tạp: Trải dài theo tuyến hoạt động của đối tượng từ nơi ẩn nấp, lối vào, nơi cất giữ tài sản cho đến lối ra.
  3. Hiện trường thường bị xáo trộn: Do sự lục lọi của đối tượng, hành vi cố tình ngụy tạo, xóa dấu vết hoặc do sự thiếu hiểu biết của người bị hại, người làm chứng và lực lượng bảo vệ ban đầu.
  4. Sự mất mát của các vật phẩm có giá trị: Định hướng cho việc xác định mục tiêu và phương tiện gây án.

Tác giả phân tích và so sánh 5 phương pháp khám nghiệm hiện trường cơ bản:

Phương pháp khám nghiệm Đặc điểm áp dụng Ưu điểm Hạn chế
Theo khu vực (chia ô) Áp dụng cho hiện trường rộng, cấu trúc phức tạp, có sự phân chia tự nhiên (phòng, tường rào, lối đi). Khám nghiệm có hệ thống, tỉ mỉ, tránh bỏ sót dấu vết trên toàn bộ diện tích. Khó xác định mối liên hệ tổng thể giữa các dấu vết; tốn nhiều nhân lực và phương tiện.
Dựa vào phương thức gây án (lần theo dấu vết) Áp dụng khi đã phân tích được biến đổi vật chất, xác định được đường vào - ra và hướng di chuyển của thủ phạm. Khai thác tối đa phương tiện kỹ thuật; tiết kiệm thời gian, công sức; đánh giá dấu vết ẩn tốt. Dễ bỏ sót dấu vết tại các khu vực nằm ngoài nhận định ban đầu; khó áp dụng khi hiện trường bị xáo trộn nặng.
Theo hình xoáy ốc Áp dụng từ trung tâm ra ngoài (khi đã rõ trung tâm) hoặc từ ngoài vào trung tâm (hiện trường rộng ngoài trời). Đảm bảo tính liên tục, bao quát toàn diện; không đòi hỏi quá nhiều nhân lực. Dễ thu gom cả dấu vết không liên quan; có xu hướng bỏ qua vi vết và dấu vết ẩn.
Theo cách cuốn chiếu Tiến hành lần lượt từ đầu này đến đầu kia theo một trật tự thống nhất ở hiện trường phẳng, hẹp. Khám nghiệm tỉ mỉ, bao quát hết các dấu vết dễ nhận thấy bằng mắt thường. Cần nhiều nhân lực; thiếu cơ sở nhận định mối liên hệ giữa các dấu vết tại chỗ; dễ bỏ sót vi vết.
Theo đường song song Áp dụng cho địa hình rộng, bằng phẳng, không có ranh giới tự nhiên để phân chia khu vực. Khám nghiệm đồng bộ toàn bộ bề mặt, tiết kiệm thời gian triển khai. Đòi hỏi lực lượng đông; khó kết nối diễn biến chuỗi hành vi của đối tượng giữa các phân đoạn.

Về hồ sơ khám nghiệm, văn bản làm rõ cấu trúc theo Thông tư số 61/2017/TT-BCA gồm:

  • Biên bản khám nghiệm hiện trường: Chia làm 3 phần (Mở đầu, Nội dung, Kết luận) và lập qua 2 bước (viết bản thảo tại hiện trường và hoàn chỉnh sau khi kết thúc).
  • Sơ đồ hiện trường: Phải có đủ 4 loại (sơ đồ chung, sơ đồ trung tâm, sơ đồ từng phần, sơ đồ chi tiết), vẽ theo tỷ lệ, kết hợp các phương pháp vẽ mặt bằng, vẽ khai triển, mặt cắt, phối cảnh hoặc quét dựng 3D (Faro, Tecan).
  • Bản ảnh và video hiện trường: Gồm ảnh định hướng, ảnh trung tâm, ảnh từng phần và ảnh chi tiết; kèm chú thích, số thứ tự.
  • Báo cáo khám nghiệm hiện trường: Tài liệu nghiệp vụ nội bộ của ngành Công an (gồm phần mở đầu, nội dung, kết thúc), không đưa vào hồ sơ tố tụng để truy tố, xét xử.

Chương này cũng xác định 6 yêu cầu bắt buộc: tính pháp lý, tính kịp thời, tính khoa học, tính toàn diện và tỉ mỉ, tính chính xác và khách quan, tính thận trọng.


Chương 2: Chiến thuật khám nghiệm hiện trường trong các vụ án trộm cắp tài sản

Chương 2 phân tích quy trình chiến thuật gồm 3 giai đoạn độc lập nhưng liên kết chặt chẽ:

1. Chuẩn bị khám nghiệm hiện trường:

  • Chuẩn bị lực lượng: Điều tra viên chủ trì, cán bộ kỹ thuật hình sự, đại diện Viện kiểm sát, người chứng kiến, cảnh sát sử dụng chó nghiệp vụ, bị can, người bào chữa, bị hại (khi cần).
  • Chuẩn bị phương tiện: Vali khám nghiệm chung/chuyên dụng, máy ảnh, máy quay, phương tiện xông keo, nguồn sáng (Polyray, Daktylight, đèn chiếu xiên), phương tiện thông tin và bảo hộ.
  • Giải quyết công việc khẩn cấp khi tiếp cận: Xử lý dấu vết có nguy cơ bị phá hủy, bắt giữ đối tượng nếu còn tại chỗ, kiểm tra công tác bảo vệ hiện trường, trao đổi với chính quyền cơ sở, lựa chọn và giải thích quyền lợi, nghĩa vụ cho người chứng kiến, hội ý phân công nhiệm vụ.

2. Tiến hành khám nghiệm hiện trường:

  • Quan sát hiện trường: Thực hiện theo nguyên tắc từ xa đến gần, từ chung đến riêng, từ tổng thể đến bộ phận; hạn chế di chuyển; sử dụng ống nhòm, kính lúp, đèn soi; đưa ra kết luận sơ bộ về phạm vi, phương pháp và lực lượng.
  • Khám nghiệm tỉ mỉ: Kiểm tra kỹ lối vào, lối ra, điểm đột nhập (cửa, cổng, tường rào, mái nhà, ô thông gió), điểm cậy phá (khóa, bản lề), điểm lục soát két sắt, tủ đồ; phát hiện vi vết, dấu vết ẩn bằng nguồn sáng xiên đơn sắc hoặc kính lúp; thu thập dữ liệu camera an ninh, hệ thống cảm biến báo động; lập bảng kiểm kê chi tiết tài sản bị mất (tên gọi, nhãn hiệu, kích cỡ, đặc điểm nhận dạng, giá trị).
  • Đánh giá dấu vết tại chỗ: Phân tích dấu vết công cụ (hướng tác động lực, độ lớn, độ mới/cũ, tay thuận của thủ phạm); dấu vết đường vân (cách cầm nắm, ngón tay/lòng bàn tay để lại, nghề nghiệp đối tượng); dấu vết chân, giày dép (hướng di chuyển, số lượng đối tượng, dáng đi chữ bát hay vòng kiềng, vận tốc di chuyển, tình trạng mang vác nặng); dấu vết máu (quệt - chùi, nhỏ giọt thẳng đứng); lông tóc, sợi vải (đối chiếu trang phục, ADN); dấu vết phương tiện giao thông (vết phanh, lốp xe).
  • Thu thập mẫu so sánh: Thu đúng chủng loại, đủ số lượng (mẫu so sánh nhiều hơn mẫu dấu vết). Dấu vết đường vân thu bằng chỉ bản; dấu giày dép in bằng mực vân tay trên giấy; dấu vết máu lấy 0,5 - 1,0 ml từ tĩnh mạch ở nhiệt độ 5°C - 8°C hoặc thấm gạc vô trùng sấy khô trong bóng mát; sợi vải thu mẫu đối chứng âm ở vùng lân cận; mẫu sinh học lấy tế bào niêm mạc miệng, chân tóc có gốc; dữ liệu điện tử thu giữ nguyên CPU, laptop, điện thoại, USB, đĩa CD/DVD.
  • Bảo quản dấu vết, vật chứng và mẫu so sánh: Đóng gói riêng biệt, ghi nhãn rõ ràng; mẫu ướt phải để khô tự nhiên trước khi đóng gói; chất cháy nổ phải có biện pháp cách ly an toàn.
  • Dựng lại hiện trường: Áp dụng khi hiện trường bị xáo trộn hoặc xuất hiện mâu thuẫn cần đối chiếu với lời khai.

3. Kết thúc khám nghiệm hiện trường: Đánh giá sơ bộ toàn bộ dấu vết thu được, tổ chức họp rút kinh nghiệm nội bộ, thông qua biên bản khám nghiệm hiện trường có chữ ký xác nhận của các thành phần tham gia, niêm phong và vận chuyển vật chứng về Cơ quan điều tra.


Chương 3: Thực trạng khám nghiệm hiện trường trong các vụ án trộm cắp tài sản và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

Chương 3 phân tích thực tiễn áp dụng thông qua các vụ án và chuyên án điển hình:

  • Chuyên án 420T (Công an TP. Đà Nẵng, tháng 3/2020): Lực lượng Kỹ thuật hình sự huy động 20 lượt cán bộ tổ chức khám nghiệm 4 vụ trộm cắp nhà "đại gia" tại quận Ngũ Hành Sơn và quận Cẩm Lệ. Khám nghiệm tỉ mỉ thu thập dấu vết đường vân, dấu vết công cụ trên ban công, tay nắm cửa và tủ, qua đó xâu chuỗi 4 vụ việc do một nhóm trộm chuyên nghiệp thực hiện.
  • Vụ trộm tại Trường mầm non xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh: Kẻ gian cậy phá két sắt phòng y tế lấy 64 triệu đồng. Hiện trường bị xáo trộn nặng do nhân viên đi lại. Tổ công tác đối chiếu toàn bộ dấu vân giày của người phát hiện, phân loại và cô lập dấu vết lạ, thu thập vân tay và ADN, loại trừ giả thuyết hiện trường giả, làm rõ đối tượng Đặng Văn Tiên (sinh năm 2004).
  • Vụ án "siêu trộm" Nguyễn Văn Năm (sinh năm 1987, Bắc Ninh): Thực hiện hơn 20 vụ trộm tiệm vàng liên tỉnh (tiệm Kim Quang và tiệm Hạnh tại Quảng Nam lấy hơn 150 lượng vàng trị giá trên 3,5 tỷ đồng; tiệm Trang Ngọc tại Hà Tĩnh ngày 15/8/2017 lấy 1.200 chỉ vàng trị giá trên 3 tỷ đồng). Đến ngày 20/12/2018, thông qua giám định so sánh dấu vết tại Viện Khoa học hình sự (Bộ Công an), cơ quan điều tra đã xác định danh tính đối tượng dù y sử dụng giấy tờ giả mang tên Nguyễn Mạnh Hùng và kinh doanh tại Yên Bái.
  • Vụ án dựng hiện trường giả của Phạm Văn Minh (Hà Nội, 2017): Đối tượng là cựu du học sinh lợi dụng việc trông nhà người yêu dịp Tết Đinh Dậu để dùng xà cầy phá két sắt, sau đó rải mẩu thuốc lá, kim tiêm dính dung dịch màu vàng và bỏ lại điện thoại giả để ngụy tạo băng nhóm nghiện ngập đột nhập. Cơ quan điều tra đã phát hiện các điểm mâu thuẫn từ dấu vết vật chất để làm rõ hành vi phạm tội.

Tác giả chỉ ra các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân thực tiễn:

  • Tồn tại: Thu lượm bỏ sót dấu vết ẩn, vi vết hoặc thu tràn lan; bảo quản vật chứng sai kỹ thuật; bảo vệ hiện trường lỏng lẻo; lực lượng cấp huyện gánh vác hơn 91,4% yêu cầu khám nghiệm hiện trường vụ trộm cắp tài sản (theo Báo cáo tổng kết KTHS năm 2017 của Viện Khoa học hình sự) nhưng phần lớn là kiêm nhiệm, đào tạo hệ chuyên tu, tại chức, cao đẳng; phương tiện thiếu thốn, chưa có buồng tối ảnh màu, thiếu đèn đa bước sóng; chế độ phụ cấp độc hại còn thấp.
  • Nguyên nhân pháp lý: Mâu thuẫn giữa Khoản 1 Điều 201 BLTTHS 2015 ("Điều tra viên chủ trì tiến hành khám nghiệm") và Điểm g Khoản 1 Điều 37 BLTTHS 2015 ("Điều tra viên tiến hành khám nghiệm hiện trường"). Luật chưa quy định cán bộ Kỹ thuật hình sự là thành phần bắt buộc mà chỉ xếp vào nhóm "người tham gia/người có chuyên môn" (Khoản 2 Điều 201), tạo sự bất cập trong phân định quyền hạn, trách nhiệm.

Từ đó, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp:

  1. Hoàn thiện pháp luật: Sửa đổi Khoản 2 Điều 201 BLTTHS 2015 theo hướng bổ sung cán bộ Kỹ thuật hình sự là thành phần bắt buộc; phân định rõ nhiệm vụ chỉ đạo của Điều tra viên và chuyên môn của Kỹ thuật viên.
  2. Nâng cao năng lực cán bộ: Tăng cường biên chế chuyên trách cho Công an cấp huyện, bồi dưỡng kỹ năng phát hiện dấu vết ẩn và ứng dụng công nghệ mới.
  3. Đầu tư trang thiết bị: Bổ sung nguồn sáng chuyên dụng (Poliray, Daktylight), thiết bị quét dựng 3D, hệ thống bảo quản mẫu sinh học đạt chuẩn.
  4. Tăng cường cơ chế phối hợp và tuyên truyền: Thiết lập quy chế thông tin liên lạc liên ngành giữa Điều tra - Kỹ thuật hình sự - Viện kiểm sát; tuyên truyền nâng cao ý thức giữ nguyên hiện trường của người dân.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả thực tiễn: Khóa luận tập hợp các số liệu và cứ liệu thực tế: tỷ lệ thụ lý khám nghiệm của Công an cấp huyện (>91,4%), phân tích các vụ án cụ thể thu hồi tài sản trị giá hàng chục tỷ đồng (vụ trộm hơn 150 lượng vàng ở Quảng Nam, 1.200 chỉ vàng ở Hà Tĩnh, vụ thu hồi 64 triệu đồng ở Bình Liêu).
  • Đóng góp về mặt lý luận và lập pháp:
    • Khái quát hóa hệ thống chiến thuật 3 giai đoạn chuyên biệt cho tội phạm trộm cắp tài sản.
    • Phân tích chi tiết xung đột thẩm quyền giữa Điều 37 và Điều 201 BLTTHS năm 2015.
    • Luận giải cơ sở thực tiễn để kiến nghị luật hóa vai trò độc lập, bắt buộc của lực lượng Kỹ thuật hình sự trong các cuộc khám nghiệm hiện trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tế giới hạn trong giai đoạn từ năm 2017 đến giữa năm 2023; một số giải pháp kỹ thuật số mới (như phân tích dữ liệu lớn từ hệ thống camera thông minh diện rộng) chỉ dừng lại ở mức độ nêu định hướng do giới hạn số liệu tại thời điểm nghiên cứu.
  • Hướng mở: Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy trình khám nghiệm hiện trường đối với các vụ trộm cắp tài sản có yếu tố công nghệ cao, trộm cắp tài sản ảo/dữ liệu số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nhận dạng tự động dấu vết đường vân, dấu vết cơ học tại hiện trường.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Điều tra tội phạm, Kỹ thuật hình sự, Luật hình sự và Tố tụng hình sự.
    • Điều tra viên, cán bộ Kỹ thuật hình sự, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát khám nghiệm hiện trường.
  • Nội dung giá trị: Quy trình thu thập và bảo quản mẫu so sánh (máu, đường vân, sợi vải, dữ liệu điện tử); bảng so sánh ưu - nhược điểm của 5 phương pháp khám nghiệm; giải pháp xử lý hiện trường bị xáo trộn hoặc có dấu hiệu ngụy tạo.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân tích những phương pháp khám nghiệm hiện trường nào và nguyên tắc lựa chọn ra sao?
Tác giả phân tích 5 phương pháp: (1) Theo khu vực (chia ô), (2) Dựa vào phương thức gây án (lần theo dấu vết), (3) Theo hình xoáy ốc, (4) Theo cách cuốn chiếu, (5) Theo đường song song. Việc lựa chọn phương pháp căn cứ vào kết quả quan sát ban đầu, đặc điểm cấu trúc địa hình hiện trường, mức độ xáo trộn và tính chất dấu vết để lại.

2. Điểm mâu thuẫn giữa các quy định của BLTTHS năm 2015 về vai trò của Điều tra viên trong khám nghiệm hiện trường là gì?
Khoản 1 Điều 201 quy định Điều tra viên giữ vai trò "chủ trì" (tổ chức, phân công, điều hành), trong khi Điểm g Khoản 1 Điều 37 lại quy định Điều tra viên "tiến hành" khám nghiệm (trực tiếp thao tác phát hiện, thu lượm). Quy định này dẫn đến sự không thống nhất giữa vai trò chỉ huy điều hành và vai trò chuyên môn kỹ thuật trực tiếp tại hiện trường.

3. Vì sao tác giả kiến nghị đưa cán bộ Kỹ thuật hình sự thành thành phần bắt buộc trong khám nghiệm hiện trường?
Khoản 2 Điều 201 BLTTHS 2015 hiện chỉ coi cán bộ Kỹ thuật hình sự là "người có chuyên môn tham dự". Tuy nhiên, đây là lực lượng được đào tạo chuyên sâu và trực tiếp thực hiện các hoạt động kỹ thuật phức tạp (phát hiện vi vết, dấu vết ẩn, thu lượm, đóng gói, bảo quản). Việc thiếu tư cách tố tụng bắt buộc gây khó khăn cho quan hệ phối hợp và giảm tính chủ động của kỹ thuật viên.

4. Trong vụ án dựng hiện trường giả tại quận Hoàng Mai (Hà Nội) năm 2017, thủ phạm đã dùng những thủ đoạn nào để đánh lạc hướng?
Đối tượng Phạm Văn Minh đã mua xà cầy phá két sắt tầng 2, sau đó rải nhiều đầu mẩu thuốc lá, kim tiêm dính dung dịch màu vàng tại hiện trường và bỏ lại một chiếc điện thoại có nội dung tin nhắn rủ nhau đi trộm cắp nhằm tạo dựng hiện trường giả về một nhóm đối tượng nghiện ngập đột nhập.

5. Khi thu mẫu so sánh đối với dấu vết máu và dữ liệu điện tử, cán bộ khám nghiệm cần tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật nào?
Đối với dấu vết máu, mẫu so sánh lấy từ tĩnh mạch từ 0,5 đến 1,0 ml, bảo quản trong lọ thủy tinh sạch ở nhiệt độ 5°C - 8°C hoặc thấm vào gạc sạch phơi khô nơi thoáng mát. Đối với dữ liệu điện tử, phải thu giữ nguyên vẹn thiết bị gốc chứa dữ liệu (CPU máy tính để bàn, laptop, máy tính bảng, điện thoại di động, USB, đĩa CD/DVD).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Châu Loan là công trình nghiên cứu chuyên khảo có tính hệ thống về công tác khám nghiệm hiện trường trong các vụ án trộm cắp tài sản dưới góc độ Khoa học Điều tra tội phạm. Tác giả đã kết hợp phân tích khung lý luận, kỹ năng chiến thuật tố tụng với khảo sát thực tiễn giai đoạn 2017 - giữa 2023 thông qua các vụ án, chuyên án điển hình. Những kiến nghị sửa đổi Điều 201 BLTTHS năm 2015 và giải pháp đồng bộ về trang thiết bị, nhân lực mang lại giá trị thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật và hoạt động điều tra hình sự.