Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ CHẤT LƢỢNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ CỦA NHTM 1. Khái niệm về kiểm soát nội bộ 1. Khái niệm Kiểm tra, kiểm soát là một chức năng quan trọng của hoạt động quản lý và được thực hiện bởi công cụ chính yếu là hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị.
Các nhà quản lý, lãnh đạo của doanh nghiệp cần và có trách nhiệm cung cấp cho các cổ đông, cho các cơ quan quản lý Nhà nước, cho những nhà đầu tư tiềm năng những thông tin tài chính trên cơ sở hợp thời. Một hệ thống bao gồm nhiều chế độ và thể thức đặc thù được thiết kế để cung cấp cho các nhà quản lý sự bảo đảm hợp lý là các mục tiêu và mục đích quan trọng đối với doanh nghiệp. Những chế độ và thể thức này được gọi là các quá trình kiểm soát, và kết hợp lại hình thành nên cơ cấu kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. Theo quan điểm kinh tế học hiện đại, quản lý kinh tế được chia thành bốn chức năng cơ bản là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra, kiểm soát.
Trong đó, kiểm tra, kiểm soát không chỉ được coi là một kênh của quản lý mà được thực hiện ở tất cả các khâu trong quá trình quản lý. Có nghĩa là, kiểm tra, kiểm soát giúp cho nhà quản lý đánh giá được hiệu quả của các chức năng khác trong toàn bộ quá trình hoạt động của mình. Cùng với sự phát triển của kinh tế học, hoạt động quản lý ngày càng phát triển, từ hoạt động riêng rẽ, biệt lập tương đối đến kết hợp nhiều hoạt động kiểm tra, kiểm soát và dần tiến tới hoạt động độc lập. Khi nhu cầu kiểm tra, kiểm soát chưa cao, chưa phức tạp thì kiểm tra, kiểm soát được thực hiện đồng thời với các chức năng quản lý khác trên cùng bộ máy thống nhất.
Nhưng khi nhu cầu này đã phát triển lên đến một trình độ cao thì kiểm tra, kiểm soát cần thiết phải tách ra thành một bộ máy riêng, có tính chất chuyên môn độc lập. 4 Hình thức đơn giản nhất của kiểm tra, kiểm soát chính là hoạt động tự kiểm tra, kiểm soát phục vụ quản trị nội bộ doanh nghiệp hay nói cách khác đó là hoạt động kiểm soát nội bộ. Nghĩa là, kiểm soát nội bộ là hoạt động tự thân của đơn vị, do đơn vị tự lập ra, tự tiến hành các thủ tục và các bước kiểm soát nhằm tự chấn chỉnh trong nền nếp hoạt động của mình. Hoạt động kiểm soát nội bộ sẽ hiệu quả khi chúng được hình thành và thực hiện theo một hệ thống (hệ thống kiểm soát nội bộ).
Theo Hiệp hội kế toán Anh quốc (EAA – England Association of Accountant): “ Một hệ thống kiểm soát toàn diện có kinh nghiệm tài chính và các lĩnh vực khác được thành lập bởi Ban quản lý nhằm: - Đảm bảo các hoạt động kinh doanh của đơn vị phải được tiến hành trong trật tự và có hiệu quả. - Đảm bảo tuyệt đối tuân thủ các đường lối kinh doanh của Ban quản trị. - Giữ tài sản an toàn. - Đảm bảo tính toàn diện và chính xác của số liệu hạch toán.
Những thành phần riêng lẻ của Hệ thống kiểm soát nội bộ được coi là hoạt động kiểm tra nội bộ”. Theo Viện kiểm toán độc lập Hoa Kỳ (American Institute of Certified Public Accountant – AICPA): “ Kiểm soát nội bộ là một cơ cấu tổ chức cộng với toàn bộ biện pháp, giải pháp kết hợp trong kinh doanh nhằm: - Bảo đảm an toàn tài sản. - Kiểm soát tính chính xác, tin cậy của số liệu hạch toán. - Thúc đẩy hiệu quả trong kinh doanh.
- Khuyến khích sự tuân thủ đường lối quản lý đã được chấp thuận.” Theo Liên đoàn kế toán Quốc tế (The International Federation of Accountant - IFAC) : “Hệ thống kiểm tra của toàn đơn vị là toàn bộ các phương pháp, các bước công việc mà các nhà quản lý doanh nghiệp phải tuân theo. Hệ thống kiểm tra nội bộ giúp cho các nhà quản lý đạt được mục tiêu một cách chắc chắn theo trình tự và kinh doanh có hiệu quả kể cả tôn trọng các quy chế quản lý, giữ an toàn tài sản, 5 ngăn chặn, phát hiện sai phạm và gian lận; ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác, lập báo cáo tài chính kịp thời, đáng tin cậy”. Theo Luật các Tổ chức tín dụng tại Việt Nam, tổ chức tín dụng phải thiết lập hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ thuộc bộ máy điều hành, giúp Tổng giám đốc điều hành thông suốt, hiệu quả và đúng pháp luật mọi hoạt động nghiệp vụ của Tổ chức tín dụng. Trong quy chế về tổ chức và hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ trong các tổ chức tín dụng tại Việt Nam “Kiểm tra, kiểm toán nội bộ (gọi chung là kiểm tra nội bộ) trong các tổ chức tín dụng là việc thực hiện các phương pháp giám sát, kiểm tra và kiểm toán nội bộ nhằm: bảo đảm thực hiện đúng các quy định của pháp luật, các quy chế quản lý của ngành và quy định nội bộ của Tổ chức tín dụng; hạn chế rủi ro trong hoạt động và bảo vệ an toàn tài sản; đảm bảo tính toàn diện và độ tin cậy của số liệu hạch toán”.
Như vậy, hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các chính sách, các thủ tục kiểm soát do đơn vị thiết lập và duy trì nhằm điều hành toàn bộ các hoạt động của đơn vị đảm bảo các mục tiêu: - Bảo vệ tài sản và sổ sách kế toán. - Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin. - Bảo đảm duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các quy định pháp lý, các chính sách liên quan đến hoạt động của đơn vị. - Bảo đảm hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý.
* Bảo vệ tài sản và sổ sách kế toán Tài sản của đơn vị bao gồm: - Các loại tài sản được ghi trên bảng cân đối kế toán (tài sản cố định, các khoản cho vay, đầu tư,…) - Các loại tài sản phi vật chất, tài sản vô hình như: uy tín doanh nghiệp, thương hiệu, số lượng và quan hệ khách hàng, lợi thế thương mại, quan hệ trong bộ máy lãnh đạo, giữa lãnh đạo với nhân viên, chính sách thống nhất trong công tác điều hành,… 6 Tài sản của đơn vị có thể bị mất mát, lạm dụng hoặc hư hại do cố ý hoặc vô ý nếu không được bảo vệ với các biện pháp kiểm soát thích hợp. Các quy trình, các biện pháp tổ chức, quy chế, những biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ sẽ được áp dụng để bảo vệ tài sản của doanh nghiệp. * Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin Nhà quản lý phải có các thông tin chính xác để điều hành các mặt của hoạt động kinh doanh. Trong đó, thông tin kinh tế tài chính là thông tin quan trọng cho việc hình thành và ra quyết định kinh tế của các nhà quản lý.
Các thông tin được sử dụng để ra các quyết định kinh doanh phải đảm bảo trung thực, khách quan, không bị lạm dụng và sử dụng sai mục đích, cụ thể là: - Độ tin cậy của cá tài liệu tài chính, kế toán do bộ phận kế toán chuẩn bị, do Giám đốc ký duyệt hoặc báo cáo với Ban giám đốc, với Hội đồng quản trị. - Tính thích đáng, phù hợp của các thông tin tài chính, kế toán. Các thông tin này phải phản ánh đầy đủ, trung thực và khách quan đối với các hoạt động kinh tế. * Bảo đảm duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các quy định pháp lý, các chính sách có liên quan đến hoạt động của đơn vị Cơ cấu kiểm soát nội bộ được thiết kế để mang lại sự bảo đảm chắc chắn các quyết định và chế độ quản lý được thực hiện đúng quy định của pháp luật và các quy định nội bộ, đồng thời giám sát được mức hiệu quả của các chính sách áp dụng.
Nhân viên của doanh nghiệp phải tuân thủ các chính sách, quyết định nội bộ, cụ thể là: - Phát hiện kịp thời những rắc rối trong kinh doanh để hoạch định và thực hiện các biện pháp đối phó. - Ngăn chặn, phát hiện các sai phạm và các gian lận trong kinh doanh. - Ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác và đúng thể thức về các nghiệp vụ của hoạt động kinh doanh. - Lập các báo cáo tài chính kịp thời, hợp lệ và tuân theo các yêu cầu pháp định có liên quan.
* Bảo đảm hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý 7 Các quá trình kiểm soát trong mọi tổ chức đều nhằm ngăn ngừa sự lặp lại không cần thiết các nỗ lực và sự lãng phí trong mọi lĩnh vực kinh doanh, nhằm ngăn cản sự sử dụng không hiệu quả các nguồn tiềm năng. Định kỳ, nhà quản lý đánh giá kết quả hoạt động để nâng cao hiệu năng quản lý, đảm bảo cơ cấu bộ máy đơn vị có đủ năng lực điều khiển, chỉ huy đơn vị. Như vậy, kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại có thể khái quát như sau: - Mục tiêu của hoạt động kiểm soát nội bộ không chỉ giới hạn trong việc bảo vệ tài sản hay đảm bảo tính tin cậy của các thông tin tài chính mà còn bao trùm mọi mặt trong chính sách, biện pháp quản lý, cơ chế hoạt động của ngân hàng thương mại. - Hoạt động kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại trước hết là công việc của bộ máy lãnh đạo (Ban điều hành, Hội đồng quản trị).
Theo đó, các nhà lãnh đạo phải thực sự có trách nhiệm trong việc hoạch định, vận dụng một cách nhất quán công tác kiểm soát nội bộ. Trách nhiệm này hàm chứa việc họ phải đảm bảo duy trì một cơ chế kiểm soát tích cực. - Hoạt động kiểm soát nội bộ phải được coi như công cụ gắn liền, hoà nhập vào toàn bộ quá trình tác nghiệp của ngân hàng chứ không phải là một hoạt động song song hay là một biện pháp bổ sung cho công tác quản trị kinh doanh theo ý muốn chủ quan của bất kỳ nhà chức trách nào. Hơn thế, mọi quy trình, thủ tục kiểm soát nội bộ phải là bộ phận không thể tách rời của quá trình kinh doanh ngân hàng thương mại.
- Hoạt động kiểm soát nội bộ là một thể thống nhất, cần thiết phải được tách ra thành hoạt động riêng, một bộ máy riêng có tính chất chuyên môn độc lập.