CHƯƠNG 1: CƠ SỞ CỦA HỢP TÁC QUỐC PHÒNG MỸ - ĐÀI LOAN TRONG BỐI CẢNH CẠNH TRANH CHIẾN LƯỢC MỸ - TRUNG 1. Tổng quan về vấn đề Đài Loan 1. Đài Loan và Nguồn gốc hình thành vấn đề Đài Loan Đài Loan còn có tên gọi khác là Ilha Formosa, nghĩa là “Hòn đảo xinh đẹp”1, nằm ở khu vực Tây Thái Bình Dương, giữa Nhật Bản và Philippines, mở rộng tới các quần đảo Bành Hồ (Penghu), Kim Môn (Kinmen) và Mã Tổ (Matsu) và một số đảo nhỏ khác. Tổng diện tích của Đài Loan là 36.
Thủ phủ của Đài Loan nằm ở thành phố Đài Bắc; 5 thành phố trực thuộc trung ương đó là Đài Nam, Đài Trung, Cao Hùng, Đào Viên, Tân Bắc và 3 thành phố trực thuộc tỉnh đó là Cơ Long, Gia Nghĩa, Tân Trúc cùng 13 huyện. Hiện nay Đài Loan có quan hệ trên nhiều lĩnh vực với trên 140 quốc gia và vùng lãnh thổ, đồng thời là thành viên của 11 tổ chức quốc tế, có 126 văn phòng tại nước ngoài và 752 tổ chức quốc tế phi chính phủ. Ngày 1/10/1949, Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố thành lập, trở thành chính́ phủ hợp pháp tại Trung Quốc. Tuy nhiên dưới áp lực của chính phủ Mỹ, các quốc gia khối phương Tây, quốc gia không cộng sản và Tòa Thánh Vatican không công nhận chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch rút lui sang đảo Đài Loan, Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố độc lập và phát triển theo con đường đối lập với Trung Quốc đại lục. Với sự trợ giúp của Mỹ, Đài Loan duy trì quyền đại diện cho Trung Quốc tại HĐBA Liên Hiệp Quốc2. Kể từ đó Trung Quốc đại lục và Đài Loan song song cùng tồn tại, phát triển theo hai chiều hướng, hai con đường đối lập nhau. Đài Loan thực thi chính sách “phản cộng kháng Nga”, chủ trương dùng vũ lực phản công Đại lục và trở thành nơi quyết chiến sau cùng với Trung Quốc.
Ngược lại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố thay thế Trung Hoa Dân Quốc, coi mình là chính phủ hợp pháp duy nhất cho Trung Quốc, khẳng định Đài Loan là bộ phận không thể tách rời và có kế hoạch thu hồi Đài Loan. Tuy nhiên, “vấn đề Đài Loan” hình thành không chỉ phụ thuộc vào xu hướng chính trị, con đường phát triển giữa hai bờ eo biển, nguyên nhân chủ yếu ở đây là nhân tố Mỹ. Để thực hiện chiến lược của mình, Mỹ cô lập, bao vây Nước CHND Trung Hoa nhằm 1 Tuấn Lương. “Du hí đến hòn đảo xinh đẹp Đài Loan”, Báo Hanoimoi, Date:2017-03-06, https://www.org/vn_vi/post/1720.
Truy cập 8h00, ngày 12/8/2021. 2 Đến 2019 có 14 nước (Nauru, Palau, Quần đảo Marshall, Tuvalu, Belize, Honduras, Guatemala, Haiti, Nicaragua, Paraguay, Saint Kitts và Nevis, Saint Lucia, Saint Vincent và Grenadines, Swaziland) và Tòa thánh Vatican công nhận và có quan hệ ngoại giao với Đài Loan. 14 ngăn chặn trào lưu cộng sản ở Đông Nam Á. Khi nổ ra chiế n tranh Triề u Tiên, Mỹ buộc phải cho tàu chiến của hạm đội 7 đi vào eo biển Đài Loan để can thiệp, hỗ trợ bảo vệ và hòn đảo; điều phi đoàn không quân tiêm kích số 13 từ Okinawa đến đóng tại Đài Loan.
Tháng 12/1954, Mỹ và chính quyền Đài Bắc ký “Hiệp ước phòng ngự chung”3, theo đó đặt Đài Loan dưới sự bảo trợ của Mỹ. Tiếp sau đó vào các năm 1954, 1958 và 1996 xảy ra khủng hoảng giữa Trung Quốc và Đài Loan, Mỹ tích cực trợ giúp về mặt quân sự, đưa tàu chiến và máy bay đến Đài Loan, kể cả đe dọa sử dụng vũ khí nguyên tử đối với Trung Quốc để giải quyết khủng hoảng. Vào những năm 1970, khi Mỹ và Trung Quốc điều chỉnh chiến lược đối ngoại, thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức thì chính sách can dự vào Trung Quố c, ủng hộ về kinh tế, quân sự cho Đài Loan của Mỹ vẫn tiếp tục gây nên đối đầu căng thẳ ng, gay gắt ở hai bờ eo biể n. Đài Loan luôn là nút thắt trọng tâm trong chương trình nghị sự để hai nước tháo gỡ đi đến tiếp xúc, đàm phán quan hệ ngoại giao (1972 – 1979).
Chỉ sau 3 tháng Mỹ - Trung thiết lập quan hệ ngoại giao, Quố c hội Mỹ lại thông qua “Luật về quan hệ với Đài Loan”. Theo Luật này, chính phủ Mỹ tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan, ngăn cản việc Trung Quố c thực hiện thố ng nhấ t đấ t nước. Đó chính là nguyên nhân và quá trình hình thành “vấn đề Đài Loan” trong quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc Tóm lại, “vấn đề Đài Loan” hình thành có nguyên nhân từ mối quan hệ giữa hai bờ eo biển, trong đó Trung Quốc coi Đài Loan là một phần không thể tách rời, cần phải thu hồi; ngược lại chính quyền Đài Loan chủ trương độc lập với Trung Quốc đại lục. Nhưng, yếu tố quan trọng hơn, có tính quyết định chính là sự chi phối, can thiệp của Mỹ nhằm kiềm chế Trung Quốc, ngăn chặn CNCS ở châu Á để vươn lên vị trí bá chủ toàn cầu của mình.
“Vấ n đề Đài Loan” trở thành địa bàn đối đầu, tranh chấ p quyết liệt giữa Trung - Mỹ sau đó suốt nhiều thập kỷ. Mối quan hệ giữa Đài Loan với Trung Quốc và với Mỹ 1. Vị trí chiến lược của Đài Loan Đài Loan có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng trong khu vực. Hòn đảo nằm bên cạnh tuyến giao thông hàng hải từ biển Hoa Đông qua eo biển quốc tế Đài Loan và Biển Đông đến Ấn Độ Dương được coi là tuyến giao thông nhộn nhịp thứ 2 trên thế giới (chỉ sau Địa Trung Hải).000 tàu thuyền, 40% hoạt động trao đổi 3 Ngô Khôn Trí, “Ngô Khôn Trí đôi dòng về quan hệ giữa Mỹ và Đài Loan, Khoahocnet, 19/4/2021, https://khoahocnet.com/2021/04/19/ngo-khon-tri-doi-dong-ve-quan-he-giua-my-va-dai-loan/ truy cập 9h15 ngày 02/9/2021 15 hàng hóa và 25% nguồn cung cấp dầu đi đến Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản đồng thời xuất khẩu hàng hóa từ các nước này sang khu vực Châu Á, Châu Phi, Trung Đông và Châu Âu4.
Với tầm quan trọng chiến lược then chốt của Đài Loan, đặc biệt là eo biển Đài Loan thì bất kỳ xung đột nào qua eo biển này sẽ có tác động to lớn đến việc qua lại của tàu bè hải quân lẫn thương mại. Vị trí Đài Loan trong chuỗi Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương Nguồn: Nhật Báo Văn hóa online Ngoài ý nghĩa chiến lược truyền thống, Đài Loan hiện còn có một giá trị đặc biệt quan trọng vì sức mạnh công nghệ vi mạch và bán dẫn của nó. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất và Chế tạo linh kiện bán dẫn Đài Loan (Taiwan Semiconductor Manufacturing Co., Ltd) có trụ sở tại Đài Loan, là nhà sản xuất chíp công nghệ cao hàng đầu thế giới. Công ty này hiện sản xuất khoảng 92% chip tinh vi nhất thế giới.
Phần còn lại thuộc về Samsung Electronics Co. Công ty sản xuất phần lớn trong số 1,4 tỷ bộ vi xử lý có bảng mạch nhỏ nhất, hiệu quả nhất cho điện thoại thông minh mà các thương hiệu công nghệ lớn nhất thế giới, từ Apple ở Mỹ đến Alibaba ở Trung Quốc, các ngành công nghiệp trong đó có cả chip sử dụng trong công nghiệp quốc phòng. TSMC cũng tạo ra 60% bộ vi điều khiển giúp ôtô 4 Phạm Bình, “Vị trí, vai trò của Biển Đông đối với thế giới, khu vực và Việt Nam”. Tạp chí Quốc phòng toàn dân, 27/7/2021.vn/vi/bien-dao-viet-nam/vi-tri-vai-tro-cua-bien-dong-doi-voi-the-gioi-khu-vuc- va-viet-nam/17428.
16 trở nên tự động hơn5. Trong bối cảnh chính quyền Mỹ đưa ra lệnh trừng phạt tập đoàn công nghệ Huawei, cũng như các công ty công nghệ truyền dẫn của Trung Quốc thì điều đó đã đặt Đài Loan vào tâm điểm cuộc cạnh tranh công nghệ Mỹ – Trung. Mối quan hệ giữa Đài Loan với Trung Quốc Về phía Trung Quốc, sau khi thành lập vào ngày 1/10/1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho rằng chính phủ Trung Hoa Dân Quốc không còn tồn tại, họ mới là chính thể hợp pháp duy nhất của Trung Quốc và có quyền cai trị Đài Loan theo Lý thuyết kế tục nhà nước. Điều này đã được khẳng định vào ngày 25/10/1971, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc ban hành Nghị quyết số 2758 thừa nhận vị trí hợp pháp duy nhất của Trung Quốc tại Liên hiệp quốc.
Ban đầu Trung Quốc đã tính đến phương án sử dụng vũ lực để thu hồi Đài Loan. Trong những năm tiếp theo từ 1954 đến 1996 lịch sử đã ghi nhận nổ ra ba cuộc khủng hoảng giữa hai bờ eo biển Đài Loan, đó là vào các năm 1954 – 1955; 1958 và năm 1995 – 1996. Các cuộc khủng hoảng nêu trên cùng những căng thẳng kéo dài giữa hai bờ eo biển Đài Loan đã minh chứng cho quyết tâm của Trung Quốc trong mục tiêu thu hồi Đài Loan. Tuy nhiên sau đó chuyển sang phương châm đàm phán, hòa bình và thống nhất “một nước hai chế độ”.
Tháng 5/1955, thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã tuyên bố: “Giải phóng Đài Loan có hai phương thức: chiến tranh và hòa bình. Nhân dân Trung Quốc muốn trong điều kiện có thể, tranh thủ phương thức hòa bình để giải phóng Đài Loan”6. Năm 1958, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai gửi thông điệp đến lãnh đạo Đài Loan đề xuất chủ trương hòa bình rộng rãi hơn qua cái gọi là “một cương bốn mục”. Một cương là, Đài Loan thống nhất vào Trung Quốc.
Bốn mục bao gồm, Một là, sau khi Đài Loan thống nhất, trừ ngoại giao phải thống nhất vào trung ương, thì đại quyền về quân sự, chính trị, sự sắp xếp về nhân sự đều giao cho Tưởng Giới Thạch; Hai là, nếu chi phí quân sự và xây dựng kinh tế chính trị không đủ, đều do chính phủ cấp thêm; Ba là, việc cải cách xã hội đối với Đài Loan có thể từ từ, phải đợi điều kiện chín muồi và tôn trọng ý kiến của Tưởng sau khi hiệp thương quyết định mới thực hiện, và Bốn là, hai bên không phái đặc vụ sang nhau, không thực hiện những hoạt động phá hoại đoàn kết của nhau7. Tháng 8/1972 ông Chu 5 “Thế bá chủ của nhà sản xuất chip Đài Loan đe dọa nền kinh tế toàn cầu”.08:11 GMT+7 ngày 20/06/2021https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/the-ba-chu-cua-nha-san-xuat- chip-dai-loan-747446. Truy cập 17h00 ngày 22/9/2021 6 Văn Ngọc Thành – Nguyễn Văn Diện (2006), “Một số vấn đề về lịch sử: Cơ sở của lý luận Một nước hai chế độ”. NXB Nghệ An 7 Đã dẫn (12) 17 Ân Lai đã lý giải trong một bài viết rằng sở dĩ chính phủ muốn đàm phán với Tưởng Giới Thạch là vì nhân dân Đài Loan, đại lục không muốn xảy ra chiến tranh, gây ra tổn thất và đổ máu.