phần mở đầu và phần kết luận, luận án có tất cả 5 chƣơng. Chƣơng thứ nhất bao gồm tổng quan nghiên cứu: tác giả tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến di cƣ và hội nhập của ngƣời CGDC vào cộng đồng tôn giáo nơi họ đến. Chƣơng thứ hai bao gồm: cơ sở lý thuyết, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu làm nền tảng của một nghiên cứu. Trong đó có các khái niệm công cụ, lý thuyết sử dụng cho nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, các quan điểm của Giáo hội về mục vụ di dân, đặc điểm địa bàn nghiên cứu, khung phân tích.
Các cơ sở lý thuyết này làm nền tảng của nghiên cứu và làm cho nghiên cứu đi đúng hƣớng. Chƣơng thứ ba giới thiệu về đặc điểm nhân khẩu của ngƣời CGDC bao gồm: đặc điểm di cƣ, loại hình di cƣ, lý do di cƣ, các đánh giá về cuộc sống sau di cƣ. Thông qua chƣơng này ta sẽ thấy đƣợc đặc điểm chung của ngƣời CGDC tới thành phố Hà Nội. Chƣơng thứ tƣ phân tích sự hội nhập của ngƣời CGDC thông qua tham gia các sinh hoạt tôn giáo nhƣ: cầu nguyện, tham dự thánh lễ chủ nhật, lễ trọng, lãnh nhận BTTT, BTHG, tĩnh tâm, hành hƣơng; đánh giá của ngƣời không di cƣ về sự hội nhập của ngƣời CGNC.
Thông qua chƣơng này, tác giả phân tích sự hội nhập của ngƣời CGDC qua các sinh hoạt tôn giáo của ngƣời CGDC căn cứ theo bộ giáo luật năm 1986. 16 Chƣơng thứ năm phân tích sự hội nhập xã hội của ngƣời CGDC thông qua việc tham gia vào cộng đồng tôn giáo nơi đến. Trong chƣơng này, tác giả đề cập đến sự tham gia của ngƣời CGDC vào các hội đoàn Công giáo, những trợ giúp họ nhận đƣợc từ cộng đồng tôn giáo, từ những ngƣời thân, bạn bè; những đóng góp của họ cho cộng đồng tôn giáo và đánh giá về mức độ gắn kết của ngƣời CGDC với giáo xứ sở tại nơi họ đến. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Những nghiên cứu về di cƣ nói chung 1. Lý do, mục đích di cư Sau hiệp định Genève năm 1954, Việt Nam đƣợc phân chia thành hai miền Nam- Bắc và lấy vĩ tuyến 17 là ranh giới. Vào thời điểm này đã diễn ra cuộc di cƣ của những ngƣời Công giáo từ Miền Bắc vào Miền Nam là một cuộc di cƣ mang tính lịch sử. Khi nhắc đến cuộc di cƣ năm 1954 ngƣời ta thƣờng dùng từ Nam tiến, tập kết, di cƣ.
Ngƣời di cƣ, nhất là những trƣờng hợp di cƣ đơn lẻ thƣờng nhanh chóng thích nghi với điều kiện đời sống mới. Điều này đồng nghĩa với việc họ phải bỏ đi một số thói quen, tập tục, văn hóa, lối sống ở cộng đồng cũ để hội nhập vào cộng đồng mới (Nguyễn Đức Lộc, 2014). Khi đến vùng đất mới với sự hƣớng dẫn của các linh mục, ngƣời CGDC đã xây dựng nhà thờ và thiết lập giáo xứ mới giống nhƣ giáo xứ ở Miền Bắc bao gồm giáo xứ - là đơn vị cơ sở thấp nhất và là nơi cai quản giáo dân, nơi thực hiện các chủ trƣơng của Giáo Hội. Theo quy chế của hội đồng giám mục Long Xuyên xuất bản năm 1971 có ghi: ―Địa phận Long Xuyên gồm nhiều giáo hạt, mỗi giáo hạt gồm nhiều giáo xứ, mỗi giáo xứ gồm nhiều giáo họ, mỗi giáo họ có thể chia thành nhiều khu.
Họ có linh mục ở thƣờng xuyên gọi là họ chánh, còn họ không có linh mục ở thƣờng xuyên gọi là họ nhánh đặt dƣới sự cai quản của linh mục chánh xứ nhƣ 1 gia đình‖. Dƣới cấp giáo xứ là giáo họ và mỗi giáo họ đều có thiết chế nhƣ 1 nhà thờ (Nguyễn Đức Lộc, 2012). Khu vực Đông Nam Á chứng kiến mức độ di cƣ cao kể từ năm 1980, mức độ di cƣ cao này đƣợc thúc đẩy bởi vấn đề kinh tế xã hội và chính trị trong toàn khu vực. Sự tăng trƣởng kinh tế nhanh ở một số quốc gia trong khu vực đã dẫn đến tình trạng di cƣ cao ở cả những ngƣời lao động có tay nghề cũng nhƣ không có tay nghề từ các quốc gia láng giềng có kinh tế khó khăn trong đó các quốc gia nhƣ Brunei, Malayxia, Singapore, Thái Lan là nơi đến của ngƣời di cƣ trong khu vực ASEAN (J.
Collinson và cộng sự trong một nghiên cứu về di cƣ qua những phân tích so sánh dữ liệu quốc gia và tiểu quận làm nổi bật các đặc điểm sau: gia tăng dân số đô thị, đặc biệt là ở các khu vực đô thị, do di cƣ lâu dài và tạm thời; các 18 hình thức di cƣ tạm thời, vòng tròn phổ biến và sự thay đổi cân bằng giới trong hình thức di cƣ này; đô thị hóa từng bƣớc; và di cƣ trở lại từ thành thị về nông thôn (Clark et al. Thêm vào đó, các nƣớc đang phát triển nơi diễn ra quá trình đô thị hóa nhanh và dòng di cƣ từ nông thôn ra thành thị rất mạnh một phần do chênh lệch tiền lƣơng và cơ hội làm việc ngày càng cao. Những đô thị thiếu những lao động có mức lƣơng cao sẽ thu hút những lao động có mức lƣơng thấp từ các vùng nông thôn đến. Hai nhà nghiên cứu cũng cho rằng việc di chuyển kết hợp với kỳ vọng về một tiềm năng thu nhập cho phép họ có thu nhập cao hơn và cuộc sống khá hơn tại nơi họ đến (Harris & Todaro, 1970).
Một phân tích khác trong nghiên cứu “Các mô hình di cư và phát triển kinh tế ở Việt Nam” đƣa ra các mô hình di cƣ nông thôn- nông thôn; nông thôn- thành thị; thành thị - nông thôn; thành thị- thành thị cùng với việc phân tích và đƣa ra những thông tin về các loại hình di cƣ này, qua đó tác giả có những đánh giá về tình hình di cƣ ở Việt Nam và đƣa ra những kết quả về sự dƣ thừa sức lao động và sự chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị; công nghiệp hóa nông thôn không làm đảo ngƣợc đƣợc sức di cƣ từ nông thôn ra thành thị (Đặng Nguyên Anh, 1998). Quy mô chuyển cƣ tăng lên và có sự thay đổi về bản chất từ di cƣ nông thôn- đô thị chuyển sang di cƣ đô thị- đô thị; tính chọn lọc về giới tính và tuổi của ngƣời di cƣ vào hai thành phố Hà Nội và TPHCM (Nguyễn Thị Minh Đức & Nguyễn Đức Thịnh, 2007). Quá trình đô thị và công nghiệp hóa phát triển trở thành tác nhân thu hút dòng di cƣ; sự phát triển của các làng nghề lôi kéo dòng di cƣ lao động nông thôn lên thành thị làm ăn và làng nghề là nhân tố quan trọng tạo ra dòng di chuyển con lắc (Tống Văn Chung, 2011). Thực trạng di cư Nghiên cứu của (Nguyễn Đình Tấn, 2019) về vận dụng lý thuyết lực ―hút- đẩy‖ trong nghiên cứu về di cƣ lao động tự do từ nông thôn ra thành thị tìm kiếm việc làm hiện nay ở Việt Nam cho sự vận dụng lý thuyết lực hút- đẩy để phân tích về thực trạng di cƣ nông thôn - đô thị thông qua lực hút-đẩy; vấn đề quản lý đô thị thông qua việc quản lý cƣ trú của ngƣời di cƣ; những đóng góp của ngƣời di cƣ thông qua phát triển kinh tế hộ gia đình dẫn đến khía cạnh bình đẳng giới.
19 Lực đẩy: Là các yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa, tôn giáo… mà ở nơi xuất phát không đáp ứng đƣợc các nhu cầu sinh sống của họ (nhu cầu về vật chất, tinh thần, việc làm…) (Nguyễn Nữ Đoàn Vy, 2018). Lực hút: Là những điều kiện, yếu tố thuận lợi về tự nhiên, kinh tế - xã hội, chính trị, văn hoá ở nơi đến đã cuốn hút ngƣời di cƣ di chuyển đến làm việc và sinh sống. Lực hút ở đô thị thƣờng là cơ hội sống thuận tiện, có khả năng tìm kiếm việc làm có thu nhập cao hơn, có triển vọng cải thiện đời sống hơn, thuận tiện trong sản xuất kinh doanh, có điều kiện tốt hơn về giáo dục, y tế, dịch vụ xã hội so với ở nông thôn (Nguyễn Nữ Đoàn Vy, 2018). Trong một nghiên cứu về ngƣời nhập cƣ Công giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế cho thấy lý do chính để họ quyết định di cƣ chính là để đƣợc đi học (62,5%) và có việc làm tốt hơn ở thành phố (28,9%) (Nguyễn Thị Ngọc Anh, 2018).
Theo nghiên cứu của (V. Rougeau, 2008) di cƣ bao gồm: di cƣ, tị nạn, di cƣ sinh thái và nhập cƣ không có giấy tờ hoặc không thƣờng xuyên. Nghiên cứu này xoay quanh vấn đề về luật, tôn giáo và nền dân chủ; xoay quanh vấn đề di cƣ toàn cầu; thông qua Giáo huấn xã hội Công giáo đề cập đến phẩm giá con ngƣời; hoàn cảnh của ngƣời nghèo và thúc đẩy công lý toàn cầu. Nghiên cứu này cung cấp một cầu nối quan trọng về quan điểm thế tục và tôn giáo cũng nhƣ về quyền của con ngƣời.
Baggio, (2011) đã thảo luận về khái niệm chăm sóc mục vụ cho ngƣời di cƣ và đƣa ra định nghĩa cuối cùng về chăm sóc mục vụ nghĩa là: ―Tất cả các hành động do Giáo hội thực hiện cho các thành viên nhằm biểu lộ một cách cụ thể sự quan tâm yêu thƣơng và quyền năng cứu độ của Thiên Chúa Ba Ngôi hƣớng tới loài ngƣời và toàn thể tạo vật‖. Vì thế theo ông, mục vụ di cƣ là mục vụ chăm sóc giải quyết tất cả các vấn đề của ngƣời di cƣ. Nhà thờ Công giáo chú ý chăm sóc nhiều hơn cho đời sống tinh thần của ngƣời CGDC và có sự so sánh trong việc sống đạo của ngƣời CGDC thuộc hai nhóm đã có gia đình và độc thân ở ba thành phố lớn của Việt Nam là: thủ đô Hà Nội, TPHCM và thành phố Biên Hòa (Cù Thị Thanh Thúy & Nguyễn Thị Ngọc Anh, 2019). Những khó khăn, rào cản trong di cư Đối với nghiên cứu của (J.
Măcelaru, 2018) chỉ ra rằng trong Cựu ƣớc có một sợi chỉ xuyên suốt về sự quan tâm của Thiên Chúa với 20 những ngƣời ―khách lạ‖, ―ngƣời ngoại kiều‖ hay ngƣời di cƣ; ngƣời đứng về phía những ngƣời đau khổ, dễ bị tổn thƣơng và chịu sự thiệt thòi trong xã hội. Sự di cƣ theo tác giả đƣợc nói đến xuyên suốt trong Kinh Thánh. Các bản văn Kinh Thánh đã chỉ ra rằng Thiên Chúa can thiệp vào sự di cƣ của các dân tộc. Cụ thể là đối với dân tộc Israel, khi Thiên Chúa đƣa họ ra khỏi đất Ai Cập và đến một vùng đất mới đó là đất Canaan.
Và để có thể đến đất Canaan thì dân Israel đã phải đi suốt 40 năm trong sa mạc mới có thể đến đƣợc vùng đất Thiên Chúa hứa cho họ (Xh 16, 1-35) (https://augustino.net/kinh-thanh/cuu-uoc/sach-xuat-hanh/16/).