Chương I. Rửa tiền và tài trợ khủng bố —Những vấn đề chung Chương này tập trung xem xét những vấn đề chung về rửa tiền và tài trợ khủng bổ trên thế giới hiện nay như: định nghĩa các khái niệm cơ sở trong Luật pháp Quốc tế và Luật pháp của một số quốc gia, thực trạng của vấn đề rửa tiền và tài trợ khủng bố hiện nay trên thế giới: số liệu, tình hình, quy mô, sự nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến kinh tế, chính trị-xã hội và quan hệ quốc tế. Chương II. Các vấn đề hội nhập quốc tế ngành ngân hàng Việt nam và thực trạng phòng chống rửa tiền tại Việt nam Chương này tóm tắt quá trình phát triển kinh tế thị trường tại Việt nam, tổng quan những vấn đề ngành ngân hàng Việt nam đang đối mặt để có thể 5 hội nhập thành công với các thị trường tài chính khác trên thế giới.
Các vấn đề được đưa ra trong tương quan với lộ trình mở cửa ngành ngân hàng mà Việt nam đang cam kết tại một số điều ước quốc tế như Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ, Cam kết với ASEAN, WTO. và một số thách thức đối với khu vực ngân hàng tài chính Việt nam trong đó có vấn đề rửa tiền. Thách thức về rửa tiền và tài trợ khủng bố được phản ánh thông qua các hình thức rửa tiền: kiều hối, đầu tư trực tiếp, gián tiếp, tài trợ dự án, tài trợ ưu đãi, từ thiện, hoạt động nhân đạo. Luận văn cũng đề cập đến những giải pháp đã triên khai trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý và những mặt hạn chế.
Chương III - Biện pháp chính sách và một số kiến nghị để tăng cường hiệu quả phòng chống tại Việt nam Chương này trình bày kết quả nghiên cứu, xem xét các biện pháp phòng chống tài trợ khủng bố và rửa tiền, đặc biệt các biện pháp quy định trong văn bản pháp quy có giá trị cao nhất thời điểm này là Nghị định 74/NĐ- CP. Chương này cũng đưa ra các khuyến nghị với các cơ quan quản lý của Việt nam bao gồm Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, các cơ quan thi hành pháp luật và các ngân hàng thương mại Việt nam. Phần Kết luận đưa ra nhận xét về chính sách hội nhập của ngành ngân hàng Việt Nam trong lĩnh vực chống rửa tiền và tài trợ khủng bố cũng như đưa ra những khuyến nghị chính sách ban đầu mang tính định hướng cùng các công việc cần làm sắp tới để đưa khối NHTM Việt nam hoàn toàn hội nhập với thể giới tài chính. CO SỞ LÝ LUẬN VÈ HỘI NHẬP NGÀNH NGÂN HÀNG VÀ PHÒNG CHÓNG RỬA TIÈN-TÀI TRỢ KHỦNG BỐ 1.
CO SỞ LÝ LUẬN VÈ HỘI NHẬP QUỐC TÉ TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Trong bổi cảnh toàn cầu hoá, Việt nam đang nỗ lực gia nhập cộng đồng quốc tế bằng cách tham gia nhiều diễn đàn, tổ chức quốc tế, ký kết các hiệp ước, hiệp định và thoả thuận ở tầm quốc tế nhằm quảng bá hình ảnh đất nước con người Việt nam, tăng cường thúc đẩy mối quan hệ với các nước khác trên thế giới và qua đó đẩy mạnh hoạt động kinh tế, thương mại trong nước và hợp tác phát triển kinh tế với nước ngoài. Trong hoạt động hội nhập của nền kinh tế, hội nhập cho ngành tài chính tiền tệ luôn là một quan tâm lớn của Đảng và Chính phủ. Quá trình Hội nhập quốc tế về tài chính tiền tệ ở Việt nam được đánh dấu bằng nhiều văn bản thoả thuận ở tầm quốc tế, trong đó đưa ra những cam kết mở cửa thị trường tài chính, tiền tệ như Cam kêt trong khuôn khô Diễn đàn các nước Đông Nam Á (ASEAN), Hiệp định Thương mại Việt -M ỹ, Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư Việt nam - Nhật bản, Cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Ọuốc tế (W T O ). Đe hiểu hơn về những đặc điểm của quá trình hội nhập quốc tế về tài chính tiền tệ ở Việt nam, những cơ hội và thách thức kể cả thách thức về tội phạm tài chính, trước hết ta cùng xem xét các phân tích và lý thuyết đối với quá trình mở cửa dịch vụ tài chính tiền tệ và cụ thể các cam kết mở cửa của ngành ngân hàng Việt nam trong một số diễn đàn chủ chốt như Hiệp định thương mại Việt - Mỹ (BTA), Hiệp định hợp tác tài chính tiền tệ ASEAN và Cam kết trong bản chào gia nhập WTO.1 Khái niệm về hội nhập quốc tế tài chính tiền tệ Cho đến nay, các nghiên cứu khoa học chưa đưa ra một khái niệm chính thức về Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính tiền tệ.
Xét từ góc độ quốc gia, các chuyên gia đã mô tả: Hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ về bản chất là quá trình mà các quốc gia, các khu vực thực hiện việc mỏ cửa cho sự tham gia lần nhau vào trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ. Với khái niệm này, có thể thấy rõ ràng rằng Hội nhập quốc tê về tài chính - tiền tệ tác động tới mỗi quốc gia trên cả 2 phương diện: Vĩ mô và vi mô. v ề vĩ mô, quá trình hội nhập sẽ giảm dần sự khác biệt giữa các quốc gia về thể chế và giám sát đối với dịch vụ và môi trường tài chính tiền tệ. v ề vi mô, hội nhập tác động tới các yếu tố cạnh tranh, thị trường trong kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh.
Dưới đây xin phân tích một số đặc điểm cơ bản, là hệ quả đặc trưng của quá trình hội nhập trong lĩnh vực tài chính tiền tệ.2 Hệ quả đặc trưng của quá trình hội nhập quốc tê về tài chính - tiền tệ - Thứ nhất, hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ là quá trình dịch chuyển các luồng vốn giữa các thị trường tài chính thông qua các kênh dẫn vốn như đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp. Sự dịch chuyển này kéo theo cơ hội cho nước này song cũng dễ dàng gây ra hiểm hoạ khủng hoảng cho nước khác. - Thứ hai, hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ vừa là hệ quả của sự tiến bộ khoa học, kỹ thuật trên thế giới, do sự tiến bộ này thúc ép, vừa là động lực cho sự ứng dụng và phát triển khoa học kỹ thuật. - Thứ ba, hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ kéo theo sự điều chỉnh về thể chế luật pháp, chính sách, chuẩn mực tài chính - tiền tệ ở mỗi quốc gia cho gần hơn với tập quán quốc tế.
Sự ra đời hàng loạt các quy chuẩn quốc tế 8 (thể hiện tập trung nhất trong các nguyên tắc của WTO) làm cho các quốc gia đối xử với nhau bình đẳng hơn, minh bạch hơn. Đặc trưng này gây nên tác động cả 2 mặt (thời cơ và thách thức) nên các quốc gia thường tìm kiếm đường đi thích hợp bằng các "lộ trình mở cửa". - Thứ tư, hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi tập quán kinh doanh tiền tệ để thích ứng với cơ chế thị trường cạnh tranh đồng nhất. Các rào cản bảo hộ trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ sẽ không thể giữ mãi để phục vụ riêng cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tài chính - tiền tệ của mỗi nước mà phải thay vào là các công cụ thị trường.
- Thứ năm, hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tộ làm cho các quốc gia phụ thuộc nhau ngày càng nhiều hơn bởi sự "có đi, có lại" trong các giao dịch tài chính - tiền tệ cũng như trong sự giám sát của các tổ chức tài chính - tiền tệ mang tính quốc tế. Một điển hình là đồng tiền chung Châu Âu ra đời đã biến Ngân hàng Trung ương của 11 quốc gia thành viên thành 11 chi nhánh của Ngân hàng Trung ương Châu Âu. Khái niệm và định nghĩa Thuật ngữ “rửa tiền” bắt đầu xuất hiện vào những năm 20 của thế kỉ 20, ban đầu chỉ việc hợp pháp hoá các khoản tiền bất hợp pháp có được từ buôn bán ma tuý và các chất kích thích. Thuật ngữ “rửa tiền” được sử dụng chính thức lần đầu tiên tại Hội nghị Liên Hợp Quốc tổ chức tại Viên năm 1988, tại đó Công ước Viền về chổng buôn bản các chất gây nghiện đã được Liên hợp quốc thông qua và “rửa tiền” trở thành thuật ngữ chính thức cho loại hình tội phạm đi kèm với buôn bán ma tuý và chất kích thích.
9 Ngày nay, không chỉ liên quan đến buôn lậu ma tuý, rửa tiền còn có liên quan đến nhiều loại tội phạm khác nhau, đặc biệt là các tội phạm xuyên quốc gia, có tổ chức như: mại dâm, buôn người, buôn lậu vũ khí, tham nhũng, v. Theo Chương trình Toàn cầu về chổng rửa tiền của Văn phòng chổng Ma tuỷ và Tội phạm của Liên Họp Quốc (UNODC), “rửa tiền là hành vi chuyển thu nhập có nguồn gốc tội phạm thành những khoản tiền có nguồn gốc họp pháp; bản thân hành vi rửa tiền cũng là một tội phạm”. Các quốc gia cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau xung quanh khái niệm “rửa tiền”: Uỷ ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ định nghĩa: “Rửa tiền là việc chuyên đôi nhũng khoản lợi nhuận thu được từ những hoạt động bất hợp pháp thành những tài sán tài có vỏ bọc hợp pháp". Luật 18 ƯSC 1956 và 1957 của Mỹ quy định: “Rủa tiền là quả trình chuyển đôi tiền bản - lợi nhuận thu được từ hoạt động tội phạm - thành tiên sach - tiền có vo bọc họp pháp.
Mục đích chuyên đổi đằng tiền từ bất hợp pháp sang họp pháp nhằm đưa chúng vào lưu thông mà không gây ra sự nghi ngờ của cơ quan thực thi pháp luật hoặc làm lộ ra hành vi tội ác". Điều 3 - Bộ luật về chống họp thức hoá (tẩy rửa) các khoản thu nhập bằng con đường phạm pháp và tài trợ cho chủ nghĩa khủng bố ngày 7/8/2001 của Liên Bang Nga nêu: ‘H ợp thức hoá (rửa) các khoản thu nhập phạm pháp là việc sơ hữu, sử dụng hay gửi ngân hàng tiền hoặc tài sản khác thu được từ việc phạm tội, hoặc những hành vỉ khác được quy định trong các điêu 193, 194, 198, và 199 của Bộ luật Hình sự Liên bang Nga. Lực lượng đặc nhiệm tài chính (Financial Action Task Force-FATF), một đơn vị trực thuộc Uỷ ban Basle về thanh tra giám sát ngân hàng, cũng 10 đưa ra quan điếm về định nghĩa rửa tiền: “Rửa tiền là quá trình xử lý các khoản lợi nhuận đê che dấu nguồn gốc phạm tội của chủng.