CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỌC THUYẾT “CHÍNH DANH” CỦA KHỔNG TỬ, VỀ VĂN HÓA GIA ĐÌNH VÀ GIA ĐÌNH VĂN HÓA 1. Khái lược về học thuyết “chính danh” của Khổng Tử 1. 1 Cơ sở xã hội và tiền đề lý luận hình thành học thuyết “chính danh” của Khổng Tử Vài nét về Nho gia Nho gia là một trong những trường phái triết học lớn ở Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc do Khổng Tử (551 – 479 TCN), nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà giáo dục lớn sáng lập cuối thời Xuân Thu. Trước thời Xuân Thu, nhà nho được gọi là kẻ Sĩ, chuyên học văn chương và lục nghệ góp phần trị vì đất nước.
Từ cuối thời Xuân Thu, Khổng Tử đã hệ thống hoá những tri thức và tư tưởng đời trước thiết lập nên học thuyết đạo đức chính trị nổi tiếng gọi là Nho giáo hay Nho học. Đây chính là lí do người ta gọi Khổng Tử là người sáng lập ra trường phái Nho gia. Nho gia đã phát triển qua nhiều thời kỳ. Ơ Trung Quốc, Nho học đã trải qua ba giai đoạn chính: Nho học Khổng Mạnh (còn gọi là Nho học sơ kì, Nho học thời Xuân Thu – Chiến Quốc); Nho học thời Hán và Nho học thời Tống).
Học thuyết của Nho gia là học thuyết triết học và chính trị xã hội rất nổi tiếng không chỉ ở Trung Quốc mà ở cả Phương đông trong đó có Việt Nam. Nho gia gắn liền với những triết gia lớn như: Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử… Trong đó Khổng Tử là cây đại thụ lớn nhất. Kinh điển của Nho gia: tứ thư, ngũ kinh, tam cương, ngũ thường. Khổng Tử Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người làng Xương Bình nước Lỗ (nay là phía Đông Nam, thành phố Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông).
Từ thuở nhỏ, Khổng Tử đã mưu cầu được làm quan thi hành đạo chính. Suốt 14 năm ông cùng học trò bôn ba, 8 “gặp hơn 70 quân vương” tuyên truyền chủ thuyết chính trị và đạo lý trị quốc, nhưng ý nguyện của ông đã không thành. Về mặt học thuật, Khổng Tử biên khảo Thương Thư để bảo tồn sử lưu cổ đại, đinh Lễ 17 thiên để dạy học trò, chỉnh là Nhạc và Thi để giáo hóa. Ngoài ra ông còn đọc Chu Dịch để truyền Thán từ và Tương từ, căn cứ vào sử nước Lỗ để viết Xuân Thu, qua đó bộc lộ quan điểm của mình.
Nhiều quan điểm của ông thể hiện qua các cuộc đàm đạo mà nội dung của nó sau này được trình bày trong Luận Ngữ do học trò của ông chép lại. Sau khi Khổng Tử mất và chính sách tàn khốc “phần thư khoanh nho” của Tần Thủy Hoàng, thì sách của Khổng Tử không còn giữ được bao nhiêu. Khi đạo Nho được phục hưng (đời Hán Vũ đế, năm 130 TCN), sách Nhạc chỉ còn một thiên, được dem nhập vào bộ Lễ ký gọi là thiện Nhạc kỷ, những sách khác được người đời sưu tầm, bổ sung tạo thành 05 kinh là: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu. Trong triết học của mình, Khổng Tử chủ yếu đi sâu vào các vấn đề xã hội, nhưng ở các tác phẩm của ông và sách vở do học trò ghi lại, ông cũng đã đề cập đến mọi lĩnh vực của triết học, thực hiện quan điểm của ông về thế giới, về chính trị xã hội, về luân lý đạo đức và cuộc sống con người.
“Quan niệm về thế giới của Khổng Tử chịu ảnh hưởng về vũ trụ của con người Trung Hoa thượng cổ – những quan niệm lưu truyền trong dân gian được ghi trong sách Dịch”1. Khổng Tử chịu ảnh hưởng của quan niệm cho rằng vạn vật đều có chung nguồn gốc và vận động không ngừng theo “đạo” của nó. Ông đã dẫn nhiều lần để đề cập đến “một đầu mối” (nhất dĩ quán chi) để thể hiện tư tưởng này và thường dạy học trò: “cũng như dòng nước chảy, mọi vật đều trôi đi không có gì ngừng nghỉ” (Luận ngữ, tử hãn, 16), tư tưởng này của Khổng Tử đã thể hiện phép biện chứng sơ khai chất phác tự nhiên song Khổng Tử rất tin ở trời. Ông khuyên mọi người phục tùng ý chí của trời và coi việc hiểu biết mệnh trời như một điều 1 PGS.
Trịnh Dỗn Chính (chủ bin): đại cương lịch sử triết học Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 50 9 kiện để trở thành con người hoàn thiện. “Không hiểu mệnh trời không thể là người quân tử” (Luận ngữ, ngưu viết, 3).
Quan điểm của Khổng Tử về trời như vậy, tất yếu dẫn đến thuyết “sống chết có mạng, giàu sang tại trời” (Luận Ngữ, Nhan Uyên). Tư tưởng này được thể hiện rất rõ trong tác phẩm Trung Dung của Tử Tư. Về mặt giáo dục, Khổng Tử được nhiều triều đại vua chúa Trung Quốc phong làm Tiên sư, thánh sư và nhân dân Trung Quốc cho ông là người thầy của muôn đời (vạn thế sư biểu ). Lịch sử ghi nhận Khổng Tử là một trong những người đầu tiên ở Trung Quốc mở trường dạy học.
Khổng Tử rất coi trọng vai trò của giáo dục đối với cuộc sống xã hội nói chung và đối với việc hình thành nhân cách nói riêng. Với xã hội, theo ông giáo dục có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực thi lẽ công bằng, đến tôn ti trật tự, đến cuộc sống hồ hởi của mỗi cộng đồng. Với cá nhân, Khổng Tử sớm nhận thấy nhân cách của con người bị quyết định không chỉ thuần tuý bởi điều kiện sống, cho nên ông đã đến với giáo dục trong niềm tin ở sức mạnh của nó đối với việc cảm hoá con người. Đối với chủ thể giáo dục, Khổng Tử rất coi trọng nguyên tắc làm gương.
Sử sách ghi chép về thân thế và sự nghiệp của Khổng Tử đã chứng minh rằng, trong khi dạy người đời “khắc kỉ, phục lễ vi nhân”, ông đã trọn đời theo nó. Ông rất coi trọng nguyên tắc “thuyết giáo tuỳ nghi”. Coi trọng việc xác định đối tượng giáo dục qua ngôn ngữ và hành vi của họ để xác định nội dung cho phù hợp. Đối với khách thể giáo dục, Khổng Tử đặt ra rất nhiều yêu cầu khắt khe, trong đó ông đòi hỏi sự nỗ lực của người học đi theo hướng của thầy đã vạch ra.
Cơ sở xã hội Sự phát triển rực rỡ của triết học Trung Quốc cổ đại cũng là lúc xã hội Trung Quốc xã hội Trung Quốc bước vào thời kì Xuân Thu – Chiến Quốc, thời kì này còn gọi là thời kì Đông Chu. Học thuyết “chính danh” của Khổng Tử ra đời từ chính điều kiện xã hội thời kì này. Đây là thời kì chuyển từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến sơ kỳ. Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc đã tồn tại và phát triển từ triều đại nhà Hạ qua nhà Thương đến cuối thời Tây Chu thì bắt 10 đầu khủng hoảng và ngày càng đi tới suy tàn.
Lúc này xã hội Trung Quốc đang trải qua một thời kì giao thời từ chế độ tông tộc chuyển sang chế độ gia trưởng, đặc điểm xã hội cũ bị băng hoại nhưng giá trị tư tưởng, đặc điểm mới còn manh nha và đang trên con đường xác lập. Sự biến đổi toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá thời kì này đã tạo tiền đề cho biến đổi trong tư tưởng con người. Về kinh tế, thời Xuân Thu đã có những bước chuyển đáng kể. Trong nông nghiệp người dân đã có những tiến bộ mới trong việc cải tiến công cụ và kĩ thuật cải tiến công cụ sản xuất nông nghiệp.
Kinh tế Trung Quốc chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt. Việc dùng bò kéo đã trở nên phổ biến. Kĩ thuật trồng trọt được cải tiến tạo điều kiện tăng năng suất lao động nông nghiệp. Cũng từ đó chế độ “tỉnh điền” dần tan rã chuyển sang sở hữu tư nhân về ruộng đất.
Từ đó sự phân hoá giàu nghèo dựa trên cơ sở tài sản xuất hiện. Thương nghiệp và thủ công nghiệp cũng phát triển hơn trước. Tiền tệ đã xuất hiện. Trong xã hội đã hình thành một tầng lớp thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực như Huyền Cao nước Trịnh, Tử Cống…chính sự hình thành của thương nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới.
Từ tầng lớp này dần xuất hiện một loại quý tộc với thế lực ngày càng mạnh tìm cách bước lên tranh giành quyền lợi với tầng lớp quý tộc cũ. Đặc biệt về chính trị xã hội đã có những thay đổi lớn. Nếu thời Tây Chu chế độ tông pháp, “phong hầu kiến địa” vừa có ý nghĩa ràng buộc về kinh tế vừa có ý nghĩa về chính trị, ràng buộc về thuyết thống có tác dụng tích cực làm cho nhà Chu giữ được một thời gian dài hưng thịnh, thì đến thời Xuân Thu với sự thay đổi về kinh tế dẫn đến những thay đổi về chính trị làm cho chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôn trọng. Đầu mối các quan hệ về kinh tế, chính trị, quân sự giữa Thiên Tử và các nước Chư hầu ngày càng lỏng lẻo, huyết thống ngày càng xa, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn được tôn trọng như trước.
Thiên tử nhà Chu hầu như không còn quyền uy gì với các nước chư hầu, “danh” không còn hợp với “thực” nữa. Các nước chư hầu đua nhau động binh để mở rộng thế lực và đất đai, 11 thôn tính các nước nhỏ tranh giành địa vị bá chủ thiên hạ. Sự tranh giành địa vị xã hội đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào tình trạng chiến tranh khốc liệt liên miên. “Hàng loạt các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau không chỉ dẫn tới sự suy vong của hàng loạt các nước chư hầu lớn nhỏ mà còn phá hoại lễ nghĩa nhà Chu, phá hoại trật tự triều hội, triều cống, chinh phạt giữa các nước Chư hầu làm cho mâu thuẫn trong giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt và rối loạn xã hội ngày càng tăng.
”1 Tình trạng lễ nghĩa, cương thường đảo lộn, đạo đức suy đồi. Trong xã hội xảy ra các tệ nạn “tiếm ngôi việt vị”, chư hầu chiếm dụng lễ nghĩa của Thiên Tử, đại phu chiếm dụng lễ của chư hầu. Thời Xuân Thu, cảnh tôi giết vua, con hại cha, anh em, vợ chồng chia lìa thường xuyên xảy ra. Khổng Tử cho rằng tình trạng trật tự đảo lộn về mặt đẳng cấp, lễ nghĩa, đạo đức băng hoại “quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử” không phải là một sớm một chiều mà có nguyên nhân lâu dài, nó đã âm ỉ, mục ruỗng từ lâu.
Trong khi người dân phải chịu cảnh khổ cực thì vương hầu, lãnh chúa quý tộc sống xa xỉ.