CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) 1. Khái niệm NHTM Theo Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 3 sửa đổi, bổ sung một số điều tại Luật số 10/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003 thì phân theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng ở Việt Nam gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác xã. Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Các nghiệp vụ kinh doanh của NHTM Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng giống như một doanh nghiệp thương mại, đều hướng đến mục đích cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận. Ngân hàng thương mại tìm kiếm lợi nhuận bằng cách đi vay và cho vay lại. So với các doanh nghiệp thương mại dịch vụ khác thì hàng hoá của ngân hàng thương mại là một loại hàng hoá đặc biệt, đó là tiền vốn.
Giá cả của loại hàng hoá này biểu hiện ra bên ngoài là các mức lãi suất huy động hoặc lãi suất cho vay, nó chịu tác động bởi quan hệ cung - cầu vốn trên thị trường và trên cơ sở khoản lợi nhuận đạt được khi đưa vốn vay vào sản xuất kinh doanh. Vì vậy lợi nhuận chủ yếu của hoạt động ngân hàng sẽ là khoản chênh lệch giữa chi phí trả lãi huy động với thu nhập từ lãi cho vay. Để có hàng hoá kinh doanh, ngân hàng phải đưa ra một giá mua hợp lý cũng như Luan van 9 đa dạng các hình thức huy động. Đồng thời ngân hàng cũng đa dạng hoá các hình thức cho vay nhằm phân tán giảm thiểu rủi ro.
Với vị thế kinh doanh ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ trung gian hưởng hoa hồng. Ngày nay, hệ thống ngân hàng thương mại phát triển mạnh mẽ, tham gia sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội. Sự đa dạng và phong phú các nghiệp vụ kinh doanh đã làm cho ngân hàng thương mại trở thành một tổ chức kinh doanh không thể thiếu trong tiến trình phát triển kinh tế. Nhận tiền gửi Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận.
Cấp tín dụng Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. Nghiệp vụ đầu tư Ngân hàng tham gia vào đầu tư, mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ lợi tức chứng khoán và từ chêch lệch thị giá chứng khoán mua bán trên thị trường. Ngoài ra, ngân hàng Luan van 10 còn thực hiện hùn vốn, liên doanh qua đó trực tiếp góp vốn vào các doanh nghiệp để thành lập công ty, xí nghiệp mới.
Nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại Các ngân hàng có thể tham gia mua bán ngoại tệ, huy động vốn ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu của đầu tư cho vay cũng như kiếm lời. Việc kinh doanh ngoại tệ còn góp phần thúc đẩy trong công tác thanh toán quốc tế, tài trợ cho xuất nhập khẩu,. Các nghiệp vụ khác - Dịch vụ chuyển tiền: Ngân hàng theo sự uỷ nhiệm của khách hàng sẽ chuyển tiền để đáp ứng nhu cầu chi dùng của họ. Có hai phương thức chuyển tiền là chuyển tiền bằng điện và chuyển tiền bằng thư.
- Thu chi hộ tiền hàng: Theo những lệnh uỷ nhiệm thu hoặc uỷ nhiệm chi, ngân hàng sẽ tiến hành trích tiền trên tài khoản tiền gửi của khách hàng chuyển trả tiền hàng hoá, dịch vụ đã nhận hoặc thực hiện thu hộ tiền hàng khi nhận được chứng từ khách hàng nhờ thu hộ. - Nghiệp vụ uỷ thác: Là nghiệp vụ mà ngân hàng thực hiện theo sự uỷ thác của khách hàng trong việc quản lý tài sản, chuyển giao tài sản thừa kế, bảo quản chứng khoán, vàng bạc, giấy tờ có giá. để hưởng hoa hồng. - Mua bán hộ: Theo sự uỷ nhiệm của khách hàng ngân hàng thực hiện nghiệp vụ phát hành hộ trái phiếu hoặc chứng khoán cho các công ty, hoặc phát hành trái khoán Chính phủ.
Thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng có được một khoản thu nhập dưới hình thức hoà hồng phát hành. Ngân hàng có thể tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường theo lệnh của khách hàng với tư cách là một trung gian môi giới trên thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán. - Cho thuê tài chính(Leasing): Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ Luan van 11 chức tín dụng với khách hàng thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đông thuê.
Trong thời hạn cho thuê các bên không được đơn phương từ bỏ hợp đồng. Ở Việt nam hoạt động này đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây và nó đã trở thành nguồn quan trọng để các doanh nghiệp có thể tiếp cận được công nghệ mới. - Bảo lãnh: Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng( bên bảo lãnh) với bên(nhận được bảo lãnh) có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính, hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.
- Chiết khấu: Chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua lại thương phiếu , giấy tờ có giá ngắn hạn khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Trong hoạt động này có một hoạt động đáng chú ý đó là hoạt động tái chiết khấu. Hoạt động tái chiết khấu là việc mua lại thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán. Chiết khấu là một nghiệp vụ đã xuất hiện từ rất sớm trên thế giới.
Tại Việt Nam do việc kém phát triển trong việc phát hành và lưu thông các thương phiếu cũng như các giấy tờ có giá khác, nên hoạt động này mặc dù đã xuất hiện nhưng chưa phát triển mạnh. Hoạt động chiết khấu tại ngân hàng thương mại chủ yếu được tiến hành với trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếu , kỳ phiếu của các ngân hàng thương mại quốc doanh. Cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp của NHTM a. Khái niệm, đặc điểm và phân loại doanh nghiệp v Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp : Điều 4, Luật Doanh nghiệp năm 2013 sửa đổi bổ sung định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch Luan van 12 ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Căn cứ vào quy định này thì doanh nghiệp có những đặc điểm sau: - Là đơn vị kinh tế, hoạt động trên thương trường, có trụ sở giao dịch ổn định, có tài sản, - Đã được đăng ký kinh doanh, - Hoạt động kinh doanh. Theo điều 4 Luật Doanh nghiệp thì “kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. v Phân loại doanh nghiệp: Tùy theo những tiêu chí khác nhau có những cách phân loại doanh nghiệp khác nhau. ü Xét về dấu hiệu sở hữu, tức là căn cứ vào chủ sở hữu phần vốn thành lập nên doanh nghiệp ta có những loại doanh nghiệp sau: - Doanh nghiệp Nhà nước: Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ, từ đó Nhà nước giữ quyền chi phối nhất định đối với hoạt động của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do cá nhân làm chủ, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. - Doanh nghiệp tập thể: Được hình thành do các thành viên cùng góp tài sản, công sức, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm. - Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị xã hội: Là doanh nghiệp được thành lập từ nguồn kinh phí của các tổ chức chính trị xã hội. - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Là những doanh nghiệp mà nguồn vốn của doanh nghiệp được hình thành từ toàn bộ hay một phần vốn Luan van 13 của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Có thể nói dấu hiệu sở hữu là một trong những dấu hiệu quan trọng nhất để quyết định về cấu trúc tổ chức và quản lý của doanh nghiệp. ü Xét về số lượng chủ sở hữu đầu tư vốn: - Doanh nghiệp một chủ: Là doanh nghiệp chỉ do một chủ duy nhất đầu tư vốn thành lập. Theo nghĩa này những công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, doanh nghiệp tư nhân hay công ty Nhà nước là những loại hình doanh nghiệp một chủ. - Doanh nghiệp nhiều chủ: Là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở liên kết của các thành viên, thể hiện qua việc cùng nhau góp vốn thành lập doanh nghiệp, như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên hay công ty hợp danh theo Luật Việt Nam.