Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Hệ thống các khái niệm 1. Giám sát Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế, nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh (Viện Khoa học Pháp lý, 2010). “Giám sát là sự theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người này đối với cá nhân, tổ chức, cộng đồng người khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội; trong việc thực hiện chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước, các quyền, nghĩa vụ công dân, của các tổ chức chính trị - xã hội và những kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với các cá nhân, tổ chức có những hành vi sai trái” (Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26/7/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng).
Theo Quyết định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”, “Giám sát là việc theo dõi, phát hiện, xem xét; đánh giá, kiến nghị nhằm tác động đối với cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được hiểu là “giám sát xã hội”. Giám sát xã hội phát hiện cả những việc làm tốt, chưa tốt và chỉ dừng lại ở 14 mức “đánh giá, kiến nghị”, tức là áp dụng các biện pháp tác động mang tính xã hội vào hoạt động của đối tượng bị giám sát (sự nhận xét, đánh giá, kiến nghị từ phía xã hội, từ đó đối tượng bị giám sát tự chấn chỉnh, rút kinh nghiệm trong quá trình hoạt động của mình), không có quyền yêu cầu hoặc bắt buộc cơ quan, tổ chức phải tiến hành xử lý một vụ việc cụ thể nào đó. Việc có xử lý hay không xử lý, xác định kết quả, kiến nghị giám sát đó đúng hay sai phụ thuộc vào quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát theo pháp luật và các quy định hiện hành.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như sau: “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Mặt trận các cấp theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, công chức, viên chức trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý những sai sót, khuyết điểm đồng thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách cho phù hợp; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân góp phần kiểm soát quyền lực của Nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước”. Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội và tại Khoản 2, Điều 25 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, mục đích giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là: đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, kịp thới phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, các điển hình tiên tiến và những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh. 15 Theo quy định tại Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, có ba nhóm chủ thể thực hiện hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là: - Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp: Chủ trì giám sát đối với các đối tượng và nội dung quy định tại Khoản 1 và Khoản 2, Điều 26 của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015. - Các tổ chức chính trị - xã hội (Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh): Chủ trì giám sát các đối tượng và nội dung quy định tại Khoản 1 và Khoản 2, Điều 26 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 theo đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc quy định của pháp luật.
- Các tổ chức thành viên khác của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Tham gia phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thực hiện giám sát đối với các đối tượng và nội dung quy định tại Khoản 1 và Khoản 2, Điều 26 của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, quyền và trách nhiệm của tổ chức mình. Phản biện xã hội Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 quy định rõ: “Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghị tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án (gọi chung là dự thảo văn bản) của cơ quan nhà nước”. 16 Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là sự phản biện có tổ chức mang tính xã hội, có quy mô và lực lượng rộng rãi, mà đại diện là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thông qua việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị của lực lượng xã hội đối với dự thảo, chủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, đề án, dự án xã hội liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước, quyền con người, quyền công dân, quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, quyền và trách nhiệm của Mặt trận, an sinh, phúc lợi xã hội. Hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bảo đảm sự tham gia của Nhân dân, của các thành viên Mặt trận, là tiếng nói phản biện của Nhân dân, của xã hội thông qua vai trò đại diện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; trong đó tôn trọng các ý kiến khác nhau nhưng không trái với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, lợi ích quốc gia, dân tộc.
Việc phát huy sự tham gia của Nhân dân chú trọng vận động được sự tham gia của những người có uy tín, có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng ở địa phương. Nguyên tắc có sự phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp với các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp trong việc hiệp thương, xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình phối hợp công tác nói chung và các chương trình này phải có sự thống nhất trong phân công, thực hiện nhiệm vụ theo hướng gắn với quyền, trách nhiệm của từng tổ chức và trên tinh thần tự nguyện, bình đẳng và hợp tác. Chủ thể chủ trì thực hiện phản biện xã hội là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, gồm: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội (Công đoàn Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến 17 binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh) từ trung ương đến cơ sở. Có ba hình thức phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là: Tổ chức hội nghị phản biện xã hội; gửi dự thảo văn bản phản biện xã hội đến các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan để lấy ý kiến phản biện xã hội; tổ chức đối thoại trực tiếp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với cơ quan, tổ chức có dự thảo văn bản được phản biện.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Như vậy, có thể hiểu “Hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại huyện Châu Thành” được hiểu là hoạt động giám sát của các chủ thể do Mặt trận Tổ quốc chủ trì nhằm đánh giá việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, giáo dục, môi trường, văn hóa, xã hội; phát hiện những sai sót, khuyết điểm, yếu kém và kiến nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách cho phù hợp; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, những mặt 18 tích cực; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh ở huyện Châu Thành. Phản biện xã hội nhằm phát hiện những nội dung còn thiếu, chưa sát, chưa đúng, chưa phù hợp trong các văn bản dự thảo của các cơ quan Đảng, chính quyền gửi đến; kiến nghị những nội dung thiết thực, góp phần bảo đảm tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính hiệu quả trong việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội ở huyện Châu Thành.