Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRONG LĨNH VỰC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 1. Một số khái niệm liên quan 1. Giám sát “Giám sát” nguyên gốc là từ Hán - Việt, có nghĩa là: “xem xét và bàn bạc”.Nhiều cách giải nghĩa đối với khái niệm về “giám sát”. Theo Từ điển tiếng Việt, “giám sát là theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ”[26, tr.
Từ điển bách khoa toàn thư tiếng Việt, thì:“Giám sát là một hình thức hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự chấp hành những quy tắc chung nào đó”[51]. Và theo Từ điển Luật học: “Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế, nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh”.Nếu nhìn từ góc độ thực thi quyền lực nhà nước, “giám sát” được hiểu là sự theo dõi, kiểm tra đối với việc thực thi quyền lực nhà nước của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và Khoản 1 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND (năm 2015) ghi nhận khái niệm giám sát là "việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý" [29, tr. Giám sát của Quốc hội Theo quy định tại Khoản 5 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc 8 n hội và Hội đồng nhân dân (năm 2015), giám sát của Quốc hội bao gồm: "giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, giám sát của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và Đại biểu Quốc hội" [29, tr. Theo đó, giám sát của Quốc hội được hiểu là tổng hợp các hoạt động giám sát của các chủ thể: Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, ĐBQH và hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội.
Giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội Giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội là một trong những chức năng, nhiệm vụ của Đoàn ĐBQH, được thể hiện thông qua giám sát chuyên đề việc thi hành pháp luật tại địa phương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân mà đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đã chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết; phân công đại biểu Quốc hội trong Đoàn tham gia Đoàn giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu. Đặc biệt là việc tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện giám sát tại địa phương. Từ khái niệm chung và khái niệm theo pháp luật hiện hành về hoạt động giám sát, có thể khái quát hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội như sau: “Hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội là việc Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức hoạt động giám sát của Đoàn và tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn giám sát việc thi hành pháp luật tại địa phương; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và tham gia Đoàn giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu; tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo và theo dõi, 9 n xem xét, đánh giá kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật” [49, tr. Khiếu nại, đơn khiếu nại Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại năm 2011, khiếu nại "là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình" [31, Tr.
Khiếu nại được gắn với quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần nếu có thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật; quyền được pháp luật bảo vệ trước các hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người khiếu nại; trách nhiệm trước pháp luật của người khiếu nại trong trường hợp lợi dụng quyền khiếu nại để vu khống, vu cáo làm phương hại người khác. Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc trình bày nội dung khiếu nại trực tiếp. Nếu khiếu nại được thực hiện thông qua đơn thì phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại trong đơn khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức, cơ quan bị khiếu nại; lý do, nội dung khiếu nại; tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và nội dung người khiếu nại yêu cầu giải quyết. Người khiếu nại phải trực tiếp ký tên vào đơn khiếu nại hoặc điểm chỉ.
Trường hợp người khiếu nại đến trình bày nội dung khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận nội dung khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi lại nội dung khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào 10 n văn bản đó. - Đơn khiếu nại: Là văn bản có nội dung trình bày dưới một hình thức nhất định hoặc theo quy định của pháp luật, gửi đến cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền để khiếu nại một quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức hoặc hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức; xâm phạm trật tự quản lý nhà nước và phải được thụ lý, xem xét, giải quyết theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Tố cáo, đơn tố cáo Theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011, tố cáo “là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” [32, tr. Tố cáo gắn với quyền được pháp luật bảo vệ trước các hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo; trách nhiệm trước pháp luật của người khiếu nại về hành vi cố ý tố cáo không đúng sự thật để vu khống, vu cáo làm phương hại đến người khác.
Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp. Trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ ngày, tháng, năm tố cáo; họ, tên, địa chỉ của người tố cáo; nội dung tố cáo. Đơn tố cáo phải do người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp nhiều người tố cáo thông qua đơn tố cáo thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo; họ, tên người đại diện cho những người tố cáo để phối hợp khi có yêu cầu của người giải quyết tố cáo.
Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận tố cáo hướng dẫn người tố cáo viết đơn tố cáo hoặc người tiếp nhận ghi lại nội dung tố cáo bằng văn bản và yêu cầu người tố cáo ký tên 11 n hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản. Trường hợp nhiều người đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn những người tố cáo cử đại diện để trình bày nội dung tố cáo và văn bản ghi nội dung tố cáo phải do tất cả những người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ vào văn bản. - Đơn tố cáo: Là văn bản có nội dung trình bày dưới một hình thức nhất định hoặc theo quy định của pháp luật, gửi đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền để báo cho những cơ quan tổ chức, các cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật biết rõ về một hành vi vi phạm pháp luật của một tổ chức, cá nhân nào đó gây ra thiệt hại, hoặc mang tính đe dọa đến lợi ích của Nhà nước, đến quyền lợi cũng như lợi ích hợp pháp của cá nhân; xâm phạm trật tự quản lý nhà nước và phải được thụ lý, xem xét, giải quyết theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Xử lý đơn Xử lý đơn là việc cơ quan nhà nước, đơn vị, tổ chức, người có thẩm quyền khi nhận được đơn của cá nhân, cơ quan, tổ chức phải căn cứ vào nội dung đơn, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành để hướng dẫn cho công dân, người có đơn hoặc chuyển đơn đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật hoặc thụ lý, xem xét giải quyết trong trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của mình.
Giải quyết khiếu nại Giải quyết khiếu nại: “Là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại” [31, tr.