phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay tái canh cà phê của NHTM. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động cho vay tái canh cà phê tại Agribank Đắk Nông. Luan van 9 Chƣơng 3: Khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay tái canh cà phê tại Agribank Đắk Nông. Tổng quan tình hình nghiên cứu 6.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Luận án Tiến sĩ của Trần Công Thắng (2011), “Quyết định đầu tư tối ưu của người trồng cà phê tại Việt Nam”, Trƣờng đại học Western Australia, bảo vệ năm 2011. Trong đề tài này, tiến sĩ Trần Công Thắng đã sử dụng 02 mô hình để phát triển các phân tích về phản ứng của nguồn cung cà phê tại Việt Nam và mô hình hóa quyết định đầu tƣ tối ƣu và sản lƣợng tối ƣu của ngƣời trồng cà phê. Mô hình thứ nhất là sử dụng phƣơng pháp tối ƣu hóa dạng cố định để tính toán xác suất ngẫu nhiên của mô hình tối ƣu hóa các quyết định nhổ bỏ hay trồng mới cà phê của các hộ gia đình. Mô hình dự đoán thứ hai đƣa ra các ƣớc lƣợng chức năng cung ứng cà phê tổng thể.
Mô hình này cung cấp các yếu tố quyết định sự biến động diện tích cà phê tại Việt Nam. Kết quả của mô hình tối ƣu hóa dạng cố định khám phá các mức giá “ngòi nổ” trong các tình huống khác nhau. Kết quả thứ nhất chỉ ra rằng ngƣời trồng cà phê có thể có một mức giá “ngòi nổ” thấp hơn để đƣa ra quyết định nhổ bỏ cây cà phê và một mức giá “ngòi nổ” cao hơn để tái canh cây cà phê. Giữa 2 giá trị này là một khoảng các mức giá mà tại đó có một “ tác động trễ” và ngƣời nông dân sẽ không nhổ bỏ cà phê và không trồng mới cà phê.
Thứ hai, nếu mô hình này mở rộng để cho phép các mức giá “ngòi nổ” độc lập với độ tuổi của cây cà phê, và ngƣợc lại để cố định mức giá “ngòi nổ”, thu nhập sẽ tăng lên đáng kể. Những kết quả này cho thấy ngƣời nông dân không nên nhổ bỏ cây cà phê trƣớc năm thứ 11. Đồng thời, nghiên cứu của luận án cũng đề cập đến một kết quả thứ ba khi phân tích tầm quan trọng của tín dụng vốn lƣu động đối với hộ trồng cà phê. Những hộ trồng cà phê nghèo hoặc túng thiếu vốn sẽ dễ nhổ bỏ cây cà phê hơn so với các hộ không túng thiếu vốn.
Do Luan van 10 đó, tính thƣờng xuyên nhổ bỏ cây cà phê của các hộ nghèo sẽ cao hơn các hộ không nghèo ở cùng độ tuổi của cây cà phê. Sự túng thiếu tiền mặt sẽ dẫn đến tỷ lệ nhổ bỏ cây cà phê cao hơn ở các hộ nghèo, đặc biệt là giai đoạn cây cà phê nhỏ tuổi. Hơn nữa, các hộ nghèo thƣờng đợi khi mà mức giá “ngòi nổ” đặc biệt cao trƣớc khi quyết định trồng cà phê. Xuất phát từ việc túng thiếu vốn, các hộ nghèo không thể đi theo cùng một quyết định nhƣ những hộ giàu hơn, và điều này làm giảm thu nhập bình quân của họ.
Sự sẵn có của nguồn vốn tín dụng đối với các hộ nghèo sẽ tác động đáng kể đến thu nhập và hành vi của hộ nghèo. Tuy nhiên, tầm quan trọng của nguồn vốn tín dụng còn phụ thuộc vào độ tuổi của cây cà phê: nguồn vốn vay sẽ quan trọng hơn đối với ngƣời trồng cà phê vào giai đoạn cây cà phê chƣa trƣởng thành. Bên cạnh đó, quyết định nhổ bỏ hay trồng cây cà phê còn phụ thuộc vào lợi nhuận của các cây trồng thay thế. Nếu lợi nhuận của các cây trồng thay thế giảm, nông dân sẽ hầu nhƣ ít nhổ bỏ cà phê mà sẽ tái canh cà phê nhiều.
Tình hình nghiên cứu trong nước Tại Việt nam, cũng có khá nhiều đề tài, các công trình nghiên cứu liên quan đến cho vay hộ nông dân, và cho vay cà phê ở nhiều khía cạnh với phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu khác nhau. Các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học trong nước: (i) Tác giả TS. Đặng Thanh Sơn &Ths. Bùi Minh Tiết (2011), “Tình hình sử dụng vốn vay của nông hộ tại tỉnh Kiên Giang”, Tạp chí Phát triển kinh tế số 250, 8/2011: tiếp cận theo phƣơng pháp mô hình hồi quy tuyến tính để phân tích các nhân tố quy mô vốn vay, thời hạn, chi phí sử dụng vốn vay…ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến thu nhập của hộ nông dân.
Nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp phân tích hồi quy tuyến tính nhằm đánh giá những yếu tố ảnh hƣởng đến thu nhập từ lƣợng vốn vay của nông hộ trên 336 mẫu quan sát, trên 4 huyện làm đại diện cho nghiên cứu, gồm: Hòn Luan van 11 Đất, Tân Hiệp, Châu Thành và Giồng Riềng. Đây là những huyện có sản xuất nông nghiệp khá mạnh và có nhu cầu tín dụng cao trong sản xuất của toàn tỉnh, số quan sát mẫu đƣợc phân bố theo tỷ lệ đồng đều giữa các loại hình sản xuất và diện tích đất. Qua đó, tác giả đã kiểm định giả thuyết hộ vay vốn sản xuất nông nghiệp có thu nhập cao hơn hộ không có nhu cầu vay (đủ điều kiện vay nhƣng không vay) và cho thấy quy mô vốn vay, thời hạn vay và chi phí sử dụng vốn vay ảnh hƣởng trực tiếp đến thu nhập của nông hộ; quyết định cho vay của các tổ chức tín dụng dựa vào diện tích đất, đất có bằng khoán hay không, chi tiêu, thu nhập cũng nhƣ tài sản của chủ hộ, đây là những yếu tố ảnh hƣởng tích cực đến khả năng vay vốn cũng nhƣ lƣợng tiền vay đƣợc.TS Phạm Văn Khôi, Ths. Đặng Huyền Trang (2013), “Tác động của phát triển cây cà phê đến óa đói giảm nghèo ở tỉnh Sơn La”, Tạp chí Kinh tế&Phát triển, Đại học kinh tế quốc dân, số 189(II) tháng 03/2013.
Bài báo đã đánh giá tác động của phát triển cây cà phê đến óa đói giảm nghèo ở Sơn La, qua một số khảo sát. Thứ nhất, bài viết khảo sát 3 địa phƣơng trồng cà phê tập trung trên địa bàn tỉnh Sơn La, gồm thành phố Sơn La, huyện Thuận Châu, huyện Mai Sơn,và các huyện khác. Khảo sát đƣa ra số liệu thu nhập của hộ trồng cà phê có thu nhập thấp nhất và cao nhất trên địa bàn này để đánh giá tác động từ chính các hộ trồng và sơ chế cà phê thông qua chuyển đổi từ các cây trồng khác sang trồng cà phê làm cho thu nhập của hộ nghèo tăng lên. Thu nhập trên từ 1 ha đất nếu trồng cà phê thu nhập gấp 3 lần so với trồng các loại cây khác nhƣ ngô, lúa… Tác động thứ hai mà tác giả đƣa ra là tạo việc làm, thu hút lao động của hộ nghèo ở các hộ có quy mô trồng cà phê quy mô lớn, từ các cơ sở chế biến và tiêu thụ góp phần nâng cao thu nhập cho các hộ nghèo.
Tác động này thông qua mối tƣơng quan giữa tỷ lệ số hộ trồng cà phê với tỷ lệ hộ nghèo Luan van 12 trên tổng số hộ. Kết quả cho thấy, địa phƣơng nào có tỷ lệ số hộ trồng cà phê cao nhất là địa phƣơng có tỷ lệ đói nghèo thấp nhất và tƣơng tự các địa phƣơng còn lại trong phạm vi quan sát. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra một số hạn chế nhƣ trình độ thâm canh của ngƣời trồng cà phê còn thấp nên năng suất thấp, chất lƣợng cà phê thành phẩm chƣa cao, vì vậy thu nhập từ sản xuất cà phê chƣa cao; vốn đầu tƣ cho phát triển cà phê khá lớn song việc tiếp cận vốn còn nhiều khó khăn; thị trƣờng tiêu thụ cà phê không ổn định khiến ngƣời dân lo lắng không yên tâm đầu tƣ vào cà phê; liên kết giữa các khâu sản xuất, chế biến, tiêu thụ cà phê chƣa tốt. Quách Thị Khánh Ngọc, Ths Trƣơng Quốc Hảo (2012), trƣờng ĐH Nha Trang, “Phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến lƣợng vốn vay của hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Kiên Giang”, tạp chí Kinh tế & Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên, số 05/2012.
Bài viết đƣa ra mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến lƣợng vốn vay của hộ nông dân, trong đó, lƣợng vốn vay là biến phụ thuộc, 08 biến tác động gồm số lần vay, mục đích đầu tƣ, diện tích thế chấp, giá trị tài sản, thu nhập trƣớc khi vay, tuổi chủ hộ, trình độ học vấn, công việc hiện tại. Đây là những hạn chế bất cập và là rào cản làm ảnh hƣởng đến lƣợng vốn vay của nông dân. Qua đó, bài viết có đề xuất kiến nghị giải pháp vĩ mô cũng nhƣ vi mô nhằm nâng cao lƣợng vốn vay của hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các biên có ý nghĩa là: Tuổi của chủ hộ, giới tính, diện tích đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chi tiêu của hộ, tổng tài sản, và tỷ lệ phụ thuộc.
Mô hình phân tích Tobit nghiên cứu mối tƣơng quan giữa số lƣợng biến động của biến phụ thuộc với biến độc lập. Các biến nhƣ: trình độ học vấn của chủ hộ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vị trí xã hội, diện tích đất, thu nhập, chi tiêu của hộ và tổng tài sản là các biến độc lập ảnh hƣởng đến lƣợng vốn vay, đều có mức ý nghĩa từ 1% đến 10%. Các luận văn được bảo vệ tại các trường đại học trong 03 năm gần nhất (i) Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Hải Yến (2016), Tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất cà phê tỉnh Đắk Lắk, Trƣờng Đại học kinh tế Huế, 2016 Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất cà phê thông qua 02 khía cạnh là tiếp cận vốn tín dụng và sử dụng vốn tín dụng ngân hàng của các hộ sản xuất cà phê. Trên cơ sở đó, luận án đã ây dựng khung phân tích thiết kế theo 02 nội dung tiếp cận vốn tín dụng và sử dụng vốn tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất cà phê, đồng thời chỉ rõ bốn nhân tố ảnh hƣởng đến tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất cà phê bao gồm nhân tố thuộc về đặc điểm của hộ sản xuất, nhân tố thuộc đặc điểm của NHTM, nhân tố thuộc chính sách của chính phủ và nhân tố khác.