chương 1 luật doanh nghiệp 2020, “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Như vậy, doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích thực hiện 1 hoặc 1 số hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ nhằm mục tiêu sinh lời hoặc/và mục tiêu xã hội. Tiêu chí phân loại Tùy vào các mục đích nghiên cứu của tác giả/nhà nghiên cứu mà người ta chia doanh nghiệp thành các loại hình doanh nghiệp khác nhau dựa theo những đặc điểm về quy mô, pháp lý, theo ngành nghề hoạt động, theo cách thức/hình thức sở hữu… Tiêu chí phân loại theo quy mô tức là dựa trên các yếu tố về tổng nguồn vốn, số lượng lao động hay doanh thu…. Trong đó, tùy vào từng ngành nghề cụ thể cũng như từng quốc gia và từng thời kỳ mà các tiêu chí đánh giá đưa ra lại khác nhau.
Dựa vào những tiêu chí trên, người ta chia ra doanh nghiệp ra thành doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong đó, doanh nghiệp có quy mô lớn là doanh nghiệp có khoảng 500 lao động và 100 tỷ đồng vốn trở lên, doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ khoảng 5 đến 10 lao động và từ 3 đến 5 triệu đồng. Theo tiêu chí về ngành nghề kinh doanh cũng có thể chia doanh nghiệp ra thành các nhóm khác nhau. Việc phân chia doanh nghiệp theo tiêu chí ngành nghề kinh doanh có ý nghĩa trong việc nghiên cứu cấu trúc vốn và chi phí vốn của doanh nghiệp, những rủi ro của từng loại hình, ngành nghề kinh doanh,… Trong nền kinh tế, có thể chia doanh nghiệp thành 6 nhóm ngành kinh tế cơ bản với những đặc điểm khác nhau như công nghiệp, nông nghiệp thủy sản, thương và dịch vụ, giao 9 thông vận tải, xây dựng và các ngành nghề khác… Từ mỗi ngành kinh tế trên có thể chia thành các nhóm ngành nhỏ khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu.
Ngành thương mại, dịch vụ có đặc điểm là vốn lưu động lớn, vòng quay vốn nhanh hơn so với các ngành công nghiệp, tài sản thường tập trung chủ yếu vào khoản mục hàng tồn kho, khoản phải thu. Trong khi đó, ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng thường có nguồn vốn cố định chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn, tài sản chủ yếu là các tài sản cố định, thời gian thu hồi vốn thường chậm hơn. Doanh nghiệp sản xuất thường có vòng quay vốn lưu động chậm hơn so với các doanh nghiệp thương mại, tài sản chủ yếu tập trung ở mục tài sản cố định chủ yếu là nhà xưởng, máy móc, thiết bị, khoản phải thu và hàng tồn kho. Doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng thường có thời gian luân chuyển vốn dài do chu kỳ sản xuất các sản phẩm thường dài và rủi ro cũng cao hơn.
Vai trò của doanh nghiệp Thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và tăng thu nhập quốc dân. Do quy mô đa dạng có thể phân bổ ở khắp mọi nơi trên lãnh thổ, từ các đô thị lớn đến cả những nơi cơ sở hạ tầng chưa phát triển nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh kinh tế của từng vùng, từng địa phương, góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và tăng thu nhập quốc dân. Cụ thể: Một số ngành đem lại nhiều kim ngạch xuất khẩu cho cả nước như ngành chế biến thủy - hải sản, may mặc, da giày … có đặc thù cần nhiều lao động có thể đặt tại các vùng kinh tế kém phát triển, cơ sở hạ tầng thấp, trong khi đô thị tập trung nhiều nguồn lao động tri thức sẽ phù hợp với các ngành đòi hỏi công nghệ, kỹ thuật cao. Góp phần tạo việc làm cho người lao động.
Trong những năm gần đây, sự tăng nhanh của số lượng doanh nghiệp đã góp phần giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cao cho người lao động, thúc đẩy tăng trưởng GDP …. Thu nhập cao và tăng nhanh của lao động doanh nghiệp góp phần cải thiện và nâng cao mức sống xã hội và chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Cung cấp khối lượng hàng hóa đa dạng và phong phú về số lượng, chất lượng 10 và chủng loại thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng tạo ra khối lượng hàng hóa dịch vụ chủ yếu cho nền kinh tế.
Khi doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển sẽ tiềm năng mang lại khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn, phong phú đa dạng, chất lượng tốt hơn cho nền kinh tế. Từ đó, các hàng hóa dịch vụ này sẽ thay thế được các mặt hàng nhập khẩu, góp phần quan trọng cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nước và tăng xuất khẩu, thúc đẩy kinh tế phát triển. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Hầu hết các doanh nghiệp lớn tập trung chủ yếu tại các thành phố, các khu đô thị, có điều kiện thuận lợi.
Trong khi đó, với ưu thế phân tán rộng khắp, đáp ứng nhu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực đã giúp doanh nghiệp tạo lập sự cân đối về trình độ phát triển giữa các vùng miền, đồng đều giữa các lĩnh vực kinh tế, hạn chế việc chuyển dịch lao động từ nông thôn lên thành thị, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Phát huy và tận dụng các nguồn lực địa phương, góp phần tăng trưởng kinh tế. Với số lượng nhiều, đa dạng về quy mô và hình thức hoạt động, các doanh nghiệp được phân bố rộng khắp các vùng miền trên cả nước, góp phần khai thác tối ưu các nguồn lực, tận dụng tiềm năng về lao động và tài nguyên của từng địa phương để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, tránh lãng phí tài nguyên, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế địa phương cũng như tăng trưởng kinh tế của đất nước. Tóm lại, doanh nghiệp đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế nước ta.
Trên giác độ ngân hàng, các NHTM cần có những biện pháp hỗ trợ giúp các doanh nghiệp, trong đó có tài trợ vốn, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế. Hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay khách hàng doanh nghiệp Theo khoản 1 Điều 2 Thông tư 39/2016/TT-NHNN: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định 11 theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Như vậy, cho vay là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng (TCTD) với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó Ngân hàng (TCTD) chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng (TCTD) khi đến hạn thanh toán. Đối tượng vay vốn của ngân hàng đa dạng bao gồm cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp.
Trong số đó, đối tượng tiềm năng của NHTM hiện nay là các doanh nghiệp với sự lớn mạnh về số lượng lẫn chất lượng đang đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế. Chính vì thế, khái niệm cho vay KHDN giống như khái niệm cho vay chung “Cho vay KHDN là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với doanh nghiệp, theo đó ngân hàng giao cho doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Ngân hàng có thể cho vay bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, tiền có thể chuyển tới tài khoản của khách hàng hoặc tài khoản của người bán hàng cho khách hàng. Cho vay KHDN đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy luồng vốn trong lưu thông theo nguyên tắc chuyển vốn từ nơi thừa vốn, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi thiếu vốn, hiệu quả cao đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiêp, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn của xã hội.
Đặc điểm cho vay khách hàng doanh nghiệp Thứ nhất là đối tượng khách hàng đa dạng vì các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực xây lắp, xây dựng, xuất nhập khẩu, nông nghiệp, bất động sản… Các doanh nghiệp hiện nay với các lĩnh vực hoạt động rất đa dạng luôn là đối tượng mà ngân hàng quan tâm, chú trọng và đẩy mạnh phát triển. Thứ hai là nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp lớn trong khi khả năng đáp ứng các điều kiện vay vốn của ngân hàng còn nhiều hạn chế, đặc biệt vấn đề liên quan đến tài sản bảo đảm tiền vay. Các doanh nghiệp hiện nay thường có hạn chế 12 về nguồn vốn, tài nguyên, đất đai và công nghệ, trình độ quản lý thấp dẫn đến chất lượng sản phẩm chưa cao, giảm tính cạnh tranh trên thị trường. Chính vì thế nhu cầu sử dụng vốn của các doanh nghiệp này là rất lớn, đặc biệt là các nguồn vốn tín dụng.
Tuy nhiên do quy mô nhỏ, uy tín thấp, hạn chế về năng lực tài chính, không đáp ứng điều kiện vay vốn như thiếu tài sản bảo đảm, báo cáo tài chính không minh bạch… nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay ngân hàng. Thứ ba là quy mô cho vay lớn, tính pháp lý cao hơn so với cho vay cá nhân. Ngoài việc tuân thủ quy định chung của pháp luật liên quan bao gồm dân sự, đất đai, thuế… thì doanh nghiệp thành lập và hoạt động phải tuân theo quy đinh của luât doanh nghiệp. Điều này, khiến cho các thông tin của doanh nghiệp có sự tin cậy, công khai hơn so với cá nhân.
Mặt khác, do đặc thù về hoạt động sản xuất kinh doanh và nhu cầu vay vốn nên quy mô cho vay đối doanh nghiệp thường lớn hơn so với các cá nhân. Thứ tư là chi phí và mức độ rủi ro đối với cho vay doanh nghiệp thường cao hơn so với cho vay cá nhân. Các khoản vay doanh nghiệp thường tiềm ẩn nhiều rủi ro vì hoạt động của doanh nghiệp chịu tác động của nhiều yếu tố, đặc biệt là sự biến động của kinh tế thị trường. Công tác thẩm định, giải ngân, quản lý, kiểm tra, theo dõi các khoản vay thường phức tạp và tốn kém chi phí hơn.