phần mở đầu, phần kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thƣơng mại. 1 Chƣơng 2: Thực trạng phát triển hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Bắc Đồng Nai Chƣơng 3: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Bắc Đồng Nai. 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa Trên thế giới, theo phân loại của Ngân hàng thế giới (World Bank), DNNVV đƣợc phân thành ba loại: DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa. Các tiêu chí để phân loại DNNVV của World Bank chủ yếu dựa vào số lƣợng lao động bình quân, tài sản và doanh thu hàng năm của DN. Ngoài ra còn đƣa thêm tiêu chí về quy mô vay trung bình để phân loại DNNVV (Bảng 1. Ở Việt Nam, DNNVV là doanh nghiệp đƣợc thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, đáp ứng các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Luật doanh nghiệp số 04/2017/QH14 ngày 12 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội và đƣợc quy định cụ thể tại Điều 6, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ, gồm 3 cấp: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa (Bảng 1.
Tiêu chí xác định Doanh nghiệp nhỏ và vừa Bảng 1.1: Tiêu chí xác đinh doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thế giới Qui mô công ty Nhân viên Tài sản Doanh thu hàng năm Siêu nhỏ <10 < $100.000 Nhỏ <50 < $3 triệu < $3 triệu Vừa <300 < $15 triệu < $15 triệu Quy mô vay trung bình Siêu nhỏ < $10.000 Vừa < $1 triệu (< $2 triệu đối với một số quốc gia tiên tiến) (Nguồn tổng hợp từ World Bank) 1 Bảng 1.2: Tiêu chí xác đinh doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Tiêu nhỏ chí Nông Thƣơng Nông Thƣơng Nông Thƣơng nghiệp, mại, nghiệp, mại, dịch nghiệp, mại, lâm dịch vụ lâm vụ lâm dịch vụ nghiệp, nghiệp, nghiệp, thủy sản thủy sản và thủy sản và lĩnh lĩnh vực và lĩnh vực công công vực công nghiệp, nghiệp, nghiệp, xây dựng xây dựng xây dựng Bình Bình Bình Số lao Bình Bình quân quân Bình quân quân động quân năm quân năm năm năm năm không năm tham gia không không không không quá 100 không bảo hiểm quá 10 quá 200 quá quá 10 ngƣời quá 50 xã hội ngƣời ngƣời 100 ngƣời ngƣời ngƣời Tổng ≤ 3 tỷ ≤ 10 tỷ ≤ 50 tỷ ≤ 100 tỷ ≤ 200 tỷ ≤ 300 doanh đồng đồng đồng đồng đồng tỷ đồng thu năm Tổng ≤ 3 tỷ ≤ 3 tỷ ≤ 20 tỷ ≤ 50 tỷ ≤ 100 tỷ ≤ 100 nguồn đồng đồng đồng đồng đồng tỷ đồng vốn (Nguồn Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ) Từ bảng tiêu chí cho thấy về cơ bản ở Việt Nam và các nƣớc trên thế giới đều xác định DNNVV qua số lao động, tài sản và doanh thu hàng năm của doanh nghiệp. Nhƣng ở mỗi quốc gia có đặc thù kinh tế khác nhau nên việc phân loại hình doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế xã hội ở quốc gia đó. Tại Việt Nam việc xác định DNNVV đƣợc phân định theo hai ngành nghề chính: Thứ nhất là Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng; Thứ hai là Thƣơng mại, dịch vụ. Đặc điểm của Doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa trƣớc tiên nhỏ về nguồn lực (nhỏ về vốn và hạn chế con ngƣời).
Chính vì thiếu vốn và con ngƣời dẫn đến thiếu rất nhiều nguồn 1 lực để có thể nâng cao khả năng cạnh trạnh của DNNVV trên thị trƣờng. Tuy vậy, DNNVV vẫn có những ƣu thế mà các doanh nghiệp lớn không có đƣợc (Nguyễn Trƣờng Sơn, 2014). Những thuận lợi trong hoạt động của Doanh nghiệp nhỏ và vừa - Tính linh hoạt trong chuyển đổi hoạt động kinh doanh. Nhiều nhà kinh tế học cho rằng “nhỏ là tốt”.
Khẳng định này xuất phát từ tính linh hoạt trong chuyển đổi sản xuất của các DNNVV. Đây là lợi thế mà các doanh nghiệp lớn không có đƣợc. Nhờ tính linh hoạt trong kinh doanh mà các DNNVV dễ lấp các khoảng trống của thị trƣờng, có khả năng chống đỡ đƣợc những cú sốc của khủng hoảng kinh tế. Các DNNVV thƣờng chọn những ngành nghề nhƣ kinh doanh thực phẩm, may mặc, nông sản là những ngành nghề hầu nhƣ ít bị tác động bởi khủng hoảng kinh tế.
Khi khủng hoảng kinh tế, ngƣời tiêu dùng có thể không mua nhà, ô tô, các các hàng hoá thông thƣờng khác, nhƣng không thể không ăn uống và ăn mặc. - Lựa chọn các ngành nghề kinh doanh có lợi nhuận cao. Qui mô nhỏ dẫn đến tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ đó là lợi thế của các DNNVV mà các doanh nghiệp lớn không có đƣợc. Nên các ngành kinh doanh ăn uống, lƣơng thực thực phẩm, thời trang, may mặc, và những sản phẩm tiêu dùng là những sản phẩm thế mạnh của các DNNVV.
- Khả năng sáng tạo cao và là thành viên chính của công nghiệp phụ trợ. Những ý tƣởng kinh doanh luôn xuất phát từ những doanh nghiệp nhỏ có tinh thần khởi nghiệp cao, biết tiếp cận thị trƣờng và luôn đổi mới để phát triển. - DNNVV là một trong những đối tƣợng ƣu tiên đƣợc vay với lãi suất thấp theo quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc. Những khó khăn trong hoạt động của Doanh nghiệp nhỏ và vừa - Điều hành theo phong cách gia đình và hay xung đột về vấn đề sở hữu.
Đa số các DNNVV là doanh nghiệp cá nhân hay gia đình, nên việc điều hành chủ yếu từ các thành viên gia đình nên sẽ không có khả năng thu hút những nhà quản lý giỏi nếu không thể thoát ra khỏi kiểu điều hành gia đình. Đa số các nhà 1 điều hành DNNVV đều thiếu kiến thức quản lý và những kỹ năng cần thiết để quản lý doanh nghiệp có qui mô. Nên những DNNVV khi phát triển lớn hơn thì việc chuyển sang công ty cổ phần đại chúng và cần có chính sách thu hút các nhà quản lý chuyên nghiệp là cần thiết. - Thiếu vốn và khó tiếp cận các nguồn vốn chính thức.
Xuất phát điểm của các DNNVV là vốn ít. Tại Việt Nam, để đầu tƣ mở rộng sản xuất cần vay vốn phải có tài sản thế chấp. Cơ chế tiếp cận vốn theo kiểu trên đã là rào cản để các DNNVV có nguồn lực tài chính để phát triển. - Dễ khởi nghiệp nhƣng chịu rất nhiều rủi ro trong kinh doanh.
Những rủi ro của DNNVV tập trung chủ yếu là thiếu nhân viên có kỹ năng, doanh nghiệp không nằm trong khu công nghiệp tập trung nên tiền thuê mặt bằng cao, cạnh tranh cao và chi phí hoạt động tăng. - Không có lợi thế kinh tế theo qui mô. Hiệu quả kinh tế theo qui mô làm cho doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất và kinh doanh dễ dàng hơn so với các đối thủ, nhờ đó khả năng cạnh tranh trên thƣơng trƣờng thông qua chính sách giá là một ƣu thế. Các DNNVV không thể cạnh tranh dựa trên chi phí, mà cần tập trung vào chiến lƣợc khác biệt và khai thác chênh lệch giá thông qua giảm chi phí vận chuyển và tạo sự thuận lợi trong bán hàng hơn là cạnh tranh trực diện với các doanh nghiệp lớn.
- Công nghệ lạc hậu, khó tiếp cận và đổi mới công nghệ sản xuất tiên tiến, nhất là công nghệ sản xuất xanh. Các DNNVV thƣờng gắn với công nghệ lạc hậu và thủ công. Do đa số các DNNVV là doanh nghiệp gia đình nên địa điểm sản xuất và kinh doanh nằm trong khu vực dân cƣ. Việc gây ra ô nhiểm về khói bụi, nƣớc thải, tiếng ồn là điều không tránh khỏi.
Hầu nhƣ rất ít DNNVV áp dụng công nghệ xanh trong sản xuất và kinh doanh. Nếu có thể tiếp cận vốn, đất đai cho sản xuất và sự hỗ trợ về tiếp cận công nghệ của chính phủ, thì các DNNVV mới có cơ hội phát triển để hội nhập và áp dụng công nghệ tiên tiến và xanh trong sản xuất và kinh doanh. 1 - Thiếu thông tin thị trƣờng, yếu trong hội nhập và khó tham gia chuỗi thị trƣờng của các ngành hàng Các DNNVV không đủ nguồn lực để có thông tin đầu vào và tiêu thụ sản phẩm. Ngay cả, việc sử dụng mạng xã hội và mạng internet để tiếp cận thị trƣờng vẫn còn là điểm yếu của các DNNVV.
Từ đó, mà khả năng hội nhập thị trƣờng khu vực và các nƣớc của các DNNVV Việt Nam còn hạn chế. Thiếu những năng lực trên làm cho các DNNVV tại Việt Nam khó tham gia đƣợc các chuỗi thị trƣờng của các ngành hàng nên khó tiêu thụ sản phẩm trên cả nƣớc và hội nhập thị trƣờng các nƣớc. Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế Thứ nhất: Các DNNVV đóng góp đáng kể vào sự tăng trƣởng kinh tế. DNNVV tạo ra khối lƣợng hàng hóa dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn, chất lƣợng hơn, thay thế đƣợc nhiều mặt hàng phải nhập khẩu, góp phần quan trọng cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nƣớc và xuất khẩu, đó cũng là yếu tố giữ cho nền kinh tế ổn định và phát triển.
Vì vậy, các DNNVV góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân của các nƣớc trên thế giới. Riêng ở Việt Nam, trong những năm qua, mỗi năm DNNVV đóng góp hơn 40% GDP của cả nƣớc. Thứ hai: Các DNNVV giải quyết một số lƣợng lớn chỗ làm việc cho dân cƣ, làm tăng thu nhập cho ngƣời lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo. Đặc điểm chung của các DNNVV sử dụng ít vốn nhƣng nhiều lao động.
Điều này cũng phù hợp với trình độ sử dụng công nghệ của các DNNVV. Không chỉ Việt Nam mà ở các nƣớc nhƣ Singapore trong 10 lao động thì có 71 ngƣời làm việc cho các DNNVV. Năm 2015 tại Việt Nam, số lao động thủ công, nghề đơn giản, mua bán chiếm đến 76,8% trong tổng số lao động, đa số các lao động này làm việc trong các DNNVV. Chính điều này mà các DNNVV tạo ra nhiều cơ hội việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế, qua đó góp phần giải quyết các vấn đề xã hội mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cƣ.
Thứ ba: Khu vực DNNVV huy động đƣợc các nguồn lực trong dân cƣ.