Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RỬA TIỀN 1. LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ HÀNH VI RỬA TIỀN 1. Lược sử hình thành và phát triển của các quy định pháp lý về hành vi rửa tiền trên thế giới Hành vi rửa tiền đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới. Cách đây khoảng 4000 năm trước Công nguyên, hành vi có dấu hiệu rửa tiền của các thương nhân Trung Quốc thông qua việc che giấu tài sản thực có của mình để nhằm tránh bị phát hiện, sung công quỹ.
Vào những năm 1930, ở các nước châu Mỹ Latinh đã xuất hiện một loại hành vi tội phạm mới, tiếng Tây Ban Nha gọi là "Blanqueo", dịch ra tiếng Anh là "Bleaching" và "Whitening" (tẩy trắng). Đây là hành vi nhằm chuyển hóa đồng tiền và các thu nhập bất minh thành đồng tiền hợp pháp [30, tr. Vào những năm 70 của thế kỷ 20, hành vi rửa tiền mới thực sự phổ biến và được quan tâm nhiều hơn thông qua vụ bê bối của tổng thống Mỹ Richard Nixon trong mối quan hệ với Mafia. Theo báo cáo năm 2000 của Cơ quan chống các chất gây nghiện quốc tế (gọi tắt là INCSR) cho tới thời điểm này số các nước có tình trạng rửa tiền ở mức độ đáng lo ngại đã lên tới mức hai con số.
Cụ thể tổ chức này chia mức độ hoạt động rửa tiền ở các quốc gia thành ba mức chủ yếu: Nhóm mức độ lo ngại cao; Nhóm mức độ lo ngại trung bình và nhóm được theo dõi [48]. Sự phân chia này dựa trên các tiêu chí: Có hay không có những cơ quan tài chính của quốc gia tiến hành các giao dịch có liên quan trực tiếp đến lượng tiền thu được từ những tội phạm nghiêm trọng; phạm vi của hoạt động xét xử hay bất cập ảnh hưởng đến rửa tiền; bản chất và qui mô của tình trạng rửa tiền ở trong nước; những cách thức mà mỗi quốc gia 6 z quan tâm đến tình hình cụ thể khi có chi nhánh quốc tế; những tác động hiện tại mà mỗi quốc gia quan tâm; có hay không việc giới hạn các hành vi bảo vệ pháp luật được phép chỉ ra những vấn đề cụ thể; có hay không việc thiếu thủ tục cho phép hoạt động và bỏ sót các Trung tâm buôn bán và tài chính nước ngoài; có hay không giới hạn của pháp luật đang thực thi ngày càng có hiệu quả; và sự hợp tác quốc tế trong việc chống rửa tiền ở các quốc gia. Rửa tiền là một khâu quan trọng quá trình hoạt động tội phạm nhằm che đậy, xóa nhòa nguồn gốc bất hợp pháp của những thu nhập có được từ hoạt động phạm tội. Ngày nay, thuật ngữ "rửa tiền " đã trở nên quen thuộc ở nhiều nước trên thế giới.
Sự ghi nhận rửa tiền về mặt pháp lý đầu tiên đó là Công ước Viên năm 1988 của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp ma túy và các chất hướng thần (sau đây gọi tắt là Công ước Viên 1988). Công ước này có hiệu lực từ tháng 11/1990. Đến năm 1990, Hội đồng Châu âu thông qua Công ước số 141 ngày 08/10/1990 về tội phạm rửa tiền; phát hiện, bắt giữ và tịch thu các khoản tiền và tài sản do phạm tội mà có. Công ước này mở rộng khái niệm về hành vi rửa tiền hơn so với Công ước Viên 1988 theo hướng không chỉ giới hạn ở những thu nhập từ hoạt động buôn bán bất hợp pháp ma túy và các chất hướng thần mà còn cả thu nhập có được từ các loại tội phạm khác.
Năm 2000, Công ước quốc tế về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (gọi tắt là Công ước Palermo năm 2000) ra đời đã quy định những hành vi bị coi là rửa tiền. Công ước Palermo năm 2000 yêu cầu các quốc gia phê chuẩn Công ước phải hình sự hóa hành vi rửa tiền và quy định tất cả các tội phạm nghiêm trọng (không chỉ riêng buôn bán bất hợp pháp ma túy và các chất hướng thần) là tội phạm nguồn của tội rửa tiền. 7 z Tháng 10/2003, Liên hợp quốc thông qua Công ước về chống tham nhũng, có hiệu lực vào tháng 12/2005. Nội dung của Công ước về cơ bản nhất trí quan điểm định nghĩa hành vi rửa tiền giống như Công ước Palermo năm 2000.
Đồng thời Công ước về chống tham nhũng đã đưa ra các biện pháp phòng, chống rửa tiền; kêu gọi các bên ký kết phải quy định hành vi che giấu, tàng trữ tiền, tài sản do tham nhũng mà có là tội phạm và phải hình sự hóa hành vi phạm tội chưa đạt, chuẩn bị phạm tội, đồng phạm trong pháp luật quốc gia [28, Lời nói đầu, Điều 14, 23, 27]. Cho đến nay, hành vi rửa tiền đã trở nên phổ biến và ngày càng phát triển hơn, thủ đoạn rửa tiền tinh vi hơn. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có quy định trong pháp luật nước mình về các trường hợp bị coi là rửa tiền và các biện pháp phòng, chống đối với hành vi rửa tiền. Lược sử hình thành và phát triển của các quy định pháp lý về hành vi rửa tiền tại Việt Nam Bộ luật Hình sự năm 1985, đã có quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có tại Điều 201.
Hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có cũng là một trong những hành vi rửa tiền theo quy định của pháp luật quốc tế. Tuy nhiên, quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 1985 chưa thể hiện được những hành vi bị coi là rửa tiền. Năm 1997, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật các Tổ chức tín dụng, Luật này đã có quy định về trách nhiệm của các tổ chức tín dụng đối với các khoản tiền có nguồn gốc bất hợp pháp, nhưng chưa sử dụng thuật ngữ "rửa tiền". Ngày 21 tháng 12 năm 1999, Quốc hội thông qua Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hành vi rửa tiền trong các tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại Điều 250 và tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có.
Bộ luật Hình sự năm 1999 tuy đã quy định đầy đủ hơn 8 z hành vi rửa tiền trong các điều luật phần các tội phạm, nhưng vẫn chưa mô tả được hết hành vi nguy hiểm cho xã hội nào là hành vi rửa tiền. Ngày 07/6/2005, để đáp ứng yêu cầu hội nhập và tham gia các tổ chức quốc tế, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 74/2005/NĐ-CP ngày 07/6/2005 của Chính phủ về phòng, chống rửa tiền (sau đây gọi tắt là Nghị định số 74/2005/NĐ-CP). Nghị định đã mô tả những hành vi bị coi là rửa tiền, tuy nhiên trong quá trình áp dụng vào thực tế, Nghị định đã bộc lộ những thiếu sót nhất định như: Nghị định số 74/2005/NĐ-CP chưa phải là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật; Đối tượng có trách nhiệm phòng, chống rửa tiền theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 74/2005/NĐ-CP chưa bao gồm tổ chức hành nghề công chứng, kế toán viên hành nghề độc lập…; chưa có những quy định về vấn đề ngân hàng vỏ bọc, tài khoản vô danh hoặc tài khoản sử dụng tên giả, cá nhân có ảnh hưởng chính trị…[12]. Ngày 19/6/2009, Quốc hội thông qua Luật số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, Luật số 37/2009/QH12 đã sửa tội danh tại Điều 251 từ "tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có" thành "tội rửa tiền", đồng thời cũng đã quy định rõ những hành vi nào bị coi là tội rửa tiền phù hợp với Công ước quốc tế.
Đây là lần đầu tiên thuật ngữ "rửa tiền" được quy định trong văn bản pháp luật hình sự, là cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng đấu tranh đối với loại tội này. Ngày 16/6/2010, Quốc hội thông qua Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 với các quy định liên quan đến việc phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố. Các tổ chức tín dụng, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được che giấu, thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến khoản tiền có nguồn gốc bất hợp pháp; phải xây dựng, thực hiện các biện pháp phòng, chống rửa tiền, cũng như hợp tác với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc điều tra hoạt động rửa tiền [56, Điều 11] 9 z Để đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập và để đảm bảo tuân thủ các cam kết quốc tế, ngày 06/8/2011, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 07/2011/QH13 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012, trong đó có nội dung xây dựng Luật phòng, chống rửa tiền trình Quốc hội thông qua vào kỳ họp thứ 3 (tháng 05/2012). Ngày 18 tháng 6 năm 2012, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Luật phòng, chống rửa tiền.
QUY ĐỊNH VỀ RỬA TIỀN TRONG MỘT SỐ CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ, 40+9 KHUYẾN NGHỊ CỦA FATF VÀ TRONG PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 1. Quy định về rửa tiền trong một số Văn kiện pháp lý quốc tế 1. Công ước Viên năm 1988 Công ước Viên năm 1988 của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp ma túy và các chất hướng thần có hiệu lực từ tháng 11/1990 là văn bản pháp lý đầu tiên ghi nhận hành vi rửa tiền bao gồm: Hành vi chuyển đổi hoặc chuyển giao tài sản khi biết rằng tài sản đó có nguồn gốc từ buôn bán ma túy hoặc từ việc tham gia vào hoạt động phạm tội với mục đích che giấu nguồn gốc tài sản hoặc giúp người thực hiện các hành vi trên trốn tránh trách nhiệm pháp lý đối với những hành vi của mình; Hành vi che giấu hoặc ngụy trang bản chất, nguồn gốc, địa điểm, việc định đoạt, chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản hoặc các quyền liên quan đến tài sản mà biết rõ tài sản do buôn bán ma túy mà có; Hành vi mua bán, tàng trữ hoặc sử dụng tài sản trong khi biết rõ tài sản do phạm tội buôn bán ma túy mà có [25, Điều 3 (b), (c), (i)]. Công ước chủ yếu đề cập đến các quy định liên quan đến việc chống buôn bán bất hợp pháp ma túy và các chất hướng thần, các vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật.