MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Đã từ lâu, sự tồn tại và phát triển của ngành ngân hàng và kinh tế hàng hóa luôn gắn liền với nhau. Là một kênh trung gian, không trực tiếp tạo ra của cải vật chất, nhưng hoạt động của ngành ngân hàng nói chung và NHTM nói riêng đều bao trùm lên tất cả các hoạt động kinh tế và gắn liền với sự vận động của nền kinh tế. Ngày nay, để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của doanh nghiệp trong quá trình mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao kỹ thuật công nghệ, các NHTM cần phải đẩy mạnh khả năng huy động vốn cũng như mở rộng quy mô tăng trưởng.
Điều này đồng nghĩa với việc rủi ro tín dụng cũng tăng theo, nguy cơ phát sinh nợ xấu tăng lên. Nợ xấu tăng lên đồng nghĩa với một lượng dòng tiền tương ứng không luân chuyển trong nền kinh tế và hệ thống ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong khả năng thanh khoản. Nợ xấu tăng cao cũng ảnh hưởng đến hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất và điều hành thị trường tiền tệ của NHNN. Nếu cứ để các TCTD và các chủ thể vay vốn đang có nợ xấu tự giải quyết thì dẫn đến thời gian kéo dài, số lượng doanh nghiệp/cá nhân không có nguồn vốn duy trì hoạt động, thậm chí phí sản sẽ gia tăng.
Điều này sẽ gây nguy hiểm cho sự phát triển bền vững của hệ thống tài chính nói riêng và của nền kinh tế nói chung. Do đó, đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, nếu thiệt hại do nợ xấu gây ra quá lớn đều gây nguy hiểm cho sự an toàn của hệ thống ngân hàng và sự ổn định kinh tế vĩ mô, thì các cơ quan chức năng và các TCTD phải có biện pháp can thiệp kịp thời. Sau một thời gian được kiểm soát chặt chẽ, đến giữa năm 2015, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTM tại Việt Nam lại tăng lên đáng kể, đặc biệt là tỷ trọng nhóm nợ có nguy cơ mất vốn. Sự gia tăng tỷ lệ nợ xấu lại đi kèm với động thái khuyến khích tăng trưởng dư nợ để tài trợ cho sự tăng trưởng kinh tế nói chung.
Điều này đặt ra yêu cầu nghiên cứu khoa học để giải quyết bài toán đánh đổi giữa “tăng trưởng” và “rủi ro”. Hiện nay, NHNN và các NHTM tại Việt Nam đã có những định hướng và giải 2 pháp cụ thể theo lộ trình cho hoạt động quản lý nợ xấu nhưng trong quá trình triển khai các giải pháp vẫn còn tồn tại một số hạn chế như nhận diện nợ xấu chưa thực sự chuẩn xác dẫn đến ngăn ngừa , xử lý nợ xấu chưa tập trung đúng đối tượng, việc đánh giá kết quả quản lý nợ xấu chưa được chú trọng khiến cho các NHTM chưa rút ra được những kinh nghiệm cần thiết nhằm hỗ trợ cho hoạt động quản lý nợ xấu tại các NHTM đạt được hiệu quả cao hơn. Là một chi nhánh có bề dày truyền thống, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình được đánh giá là chi nhánh có quy mô tín dụng lớn và tăng trưởng cao so với các chi nhánh khác trong cùng hệ thống NHCT. Tuy nhiên, do chưa xây dựng kế hoạch và cách thức thực hiện hoạt động quản lý nợ mà nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình có dấu hiệu tăng qua các năm.
Điều này gây thiệt hại lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh cũng như hình ảnh của chi nhánh. Nhận biết được điều này, Chi nhánh cũng đã chú trọng nhiều hơn đến hoạt động quản lý nợ để giảm thiểu nợ xấu ngay từ bước đầu xây dựng kế hoạch, chương trình, chính sách quản lý nợ xấu đến việc triển khai và đánh giá kết quả hoạt động quản lý nợ xấu. Cho đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu học thuật về nợ xấu, các đề án, chương trình để kiểm soát xử lý nợ xấu nhưng vẫn chưa có tác dụng giải quyết triệt để vấn đề đã nêu trên (bằng chứng là giá trị nợ xấu được xử lý thấp, tiến độ chậm chạp, nợ xấu mới vẫn phát sinh và có xu hướng gia tăng). Xuất phát từ thực tiễn nêu trên tác giả đã chọn đề tài:“Hoàn thiện hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình” để làm đề tài nghiên cứu.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Đề tài tập trung nghiên cứu hoàn thiện hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Ba Đình. Mục tiêu cụ thể là: (1) Hệ thống hóa những vấn đề lý luậncơ bản về hoạt động quản lý nợ xấu tại NHTM nhằm làm rõ nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu. 3 4 (2) Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình nhằm phát hiện những hạn chế và nguyên nhân của chúng để trên cơ sở đó hoàn thiện hoạt động quản lý nợ xấutrong thời gian tới. (3) Đề xuất được định hướng hoàn thiện hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình và các giải pháp để thực hiện định hướng đó.
ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động quản lý nợ xấu tạiNHTM. PHẠM VI NGHIÊN CỨU + Về mặt không gian: Nghiên cứu hoạt động quản lý nợ xấu được áp dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình. + Về mặt thời gian: Đề tàiphân tích, đánh giáhoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình trong giai đoạn 2015 - 2019; đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đìnhtrong các năm tiếp theo. + Về nội dung: Đề tài nghiên cứu các nội dung liên quan đến hoạt động quản lý nợ xấu tại chi nhánh Ngân hàng thương mại nói chung và tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình nói riêng.
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp thu thập thông tin: Nguồn thu thập các số liệu thứ cấp: Báo cáo tổng hợp của Phòng Tổng hợp – Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình giai đoạn 2015 - 2019, các số liệu thu thập từ các sở, ban ngành có liên quan. Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Luận văn đã sử dụng phương pháp này để tiếp cận với các công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động quản lý nợ xấu nhằm rút ra khoảng trống trong nghiên cứu, đồng thời thiết lập được khung lý thuyết về hoạt động quản lý nợ xấu và rút ra bài học kinh nghiệm về hoạt động quản 5 lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình. Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp: Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích thông qua nguồn số liệu thứ cấp để làm rõ tình hìnhhoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình. Phương pháp suy luận logic: Dựa trên số liệu thực tế thu thập được kết hợp với khung lý thuyết về hoạt động quản lý nợ xấu, tác giả tiến hành đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình từ năm 2015 đến 2019 từ đó rút ra được kết quả, tồn tại và nguyên nhân.
Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình cho thời gian tới. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Ngoài phần mục lục, danh mục các từ viết tắt, các bảng biểu, các hình, sơ đồvà tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình từ năm 2015 đến 2019. Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm hoạt thiện hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình.
6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀHOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nợ xấu Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu ở các quốc gia hoặc trong một nền kinh tế tùy vào góc nhìn của các chủ thể. Các hệ thống ngân hàng đều xây dựng các tiêu chí riêng để phân loại, theo dõi, giám sát nợ xấu và tìm ra các biện pháp xử lý có hiệu quả nhất. Một số khái niệm nợ xấu như sau: 1.
Nợ xấu theo quan điểm thể giới Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu: Nợ xấu theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): “Một khoản vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”. Nợ xấu theo Phòng thống kê của Liên Hợp Quốc:“Nợ xấu là khoản nợ khi đã quá hạn trả lãi hoặc gốc đến 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận, hoặc các khoản phải trả thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ.” Nợ xấu theo Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS):BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 7 ngày. Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ.