Chương 1: Cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về tự quản của chính quyền địa phương: Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về tự quản của chính quyền địa phương; Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về tự quản của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay. Chuong 1 CO SO LY LUAN CUA VIEC HOAN THIEN PHAP LUAT VE TU QUAN CUA CHINH QUYEN DIA PHUONG 1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung và vai trò của pháp luật về tự quản của chính quyền địa phương 1. Khái niệm chính quyền địa phương và pháp luật vỀ tự quản của chính quyền địa phương Đề làm rõ khái niệm pháp luật về tự quản của CQĐP, trước hết cần làm rõ một số khái niệm liên quan: * Khái niệm “chính quyền địa phương” Khái niệm “chính quyển địa phương” được sử dụng tương đối rộng rãi trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước cũng như trong các sách báo chính trị pháp lý nhưng chưa được giải thích chính thức trong các văn bản pháp luật hiện hành.
Mặc dù vậy, nhìn chung, các chuyên gia về hành chính và pháp lý ở Việt Nam cho rằng “chính quyển địa phương” được hiểu là “bộ máy thực thi quyền lực nhà nước ở 3 cấp tỉnh, huyện, xã ”, bao gồm HĐND và Ủy ban nhân dân ở các cấp này. Quan niệm về “chính quyền địa phương” thường được hiểu chung trong khoa học pháp lý và thực tiễn là các cơ quan trong chính quyền nhà nước được tô chức ở các đơn vị hành chính. Các đạo luật về tổ chức chính quyền địa phương, về Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đã góp phan xác lập quan niệm rằng CQĐÐP gồm hai loại thiết chế là: HĐND và cơ quan hành chính ở địa phương (Ủy ban hành chính, nay là UBND). Quan niệm coi CQĐP chỉ bao gồm HĐND và UBND cũng được thê hiện khá rõ trong các văn kiện của Đảng trong thời kỳ đổi mới khi có chủ trương về đổi mới tô chức bộ máy nhà nước.
Hiến pháp năm 2013 đã phục hồi khái niệm “chính quyền địa phương” (Chương IX của Hiến pháp) trong cầu trúc của bộ máy nhà nước với tính cách là một cơ cấu chính thức mà trước đây đã được Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 1958 ghi nhận rồi sau đó bị thay thế bởi cụm từ “Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính/Ủy ban nhân dân” trong các Hiến pháp 1959, 1980, 1992 [33]. Trong pháp luật ở các nước, khái niệm “chính quyền địa phương” lại thường có điểm chung là không bao hàm các cơ quan nhà nước được tô chức và hoạt động ở địa phương (ví dụ: các cơ quan tòa án, viện công tố hoặc viện kiểm sát).Tại Mỹ, theo từ điển Black?s Law Dictionary, “chính quyển địa phương” (local government) được hiểu là “chính quyển của một địa phương nhất định, chăng hạn, ở thành phố, địa hạt và là cơ quan chính quyên dưới chỉnh quyền bang”. Tại Anh, chính quyền địa phương cũng được quan niệm là các cơ quan công quyên được lập ở các địa phương và do cử trì địa phương bằu nên ”. Có quan điểm cho rằng: ở đơn vị hành chính nào không tổ chức cơ quan đại diện quyền lực nhân dân thì ở đó không có tự quản địa phương, chỉ còn tô chức hành chính điều hành [25], cho rằng thuật ngữ “chính quyền” thường được sử dụng để chỉ việc thực hiện quyền lực chính trị bang cac co cấu nhà nước, mà trong tông thê của cơ cấu này đòi hỏi phải có một bộ phận được bầu ra theo phương thức bầu cử phô thông, bình đăng, trực tiếp và kín để quyết định chính sách, pháp luật và những vẫn đề quan trọng ở tầm quốc gia hoặc lãnh thô hành chính.
Nếu thiếu chế định này thì không còn khái niệm chính quyền và nó được thay thế băng một thuật ngữ khác, đó là hành chính có tính nhà nước. Một quan điểm khác chỉ ra, CQDP ở Việt Nam thường được hiểu gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên một đơn vị hành chính — lãnh thô để phân biệt với bộ máy nhà nước ở một đơn vị hành chính nhưng công dân không bầu ra người đại diện của mình để tập hợp thành cơ quan đại diện quyền lực của họ và ở đó chỉ tổ chức hành chính nhà nước đề thực hiện điều hành hành chính; thực chất là ở nơi ấy làm theo chỉ đạo, mệnh lệnh của cấp trên trong quản lý công việc thuộc thẩm quyền [25]. Như vậy, “chính quyên địa phương” là khái niệm có thể có những cách hiểu khác nhau, nhưng điểm thống nhất giữa các nhà nghiên cứu là chính quyền địa phương phải là cơ quan được lập ra cho chính địa phương, để quản lý công việc ở địa phương, do bầu cử hoặc do bổ nhiệm. Theo Hiến pháp năm 2013 thiết chế HĐND phải có ở tất cả các cấp chính quyền, sau khi thí điểm không tổ chức HĐND cấp quận, huyện, phường trong thời gian trước khi sửa đổi Hiến pháp trên cơ sở thực hiện Nghị quyết số 26/2008/QH12 ngày 15/11/2008 của Quốc hội về việc thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.
Mặt khác, CQĐÐP cũng không bao gồm các cơ quan tòa án nhân dân hay viện kiểm sát nhân dân dù các cơ quan này được đặt tại địa phương. Chính quyền địa phương cần phải có quyền và khả năng thực tế, trong giới hạn của luật pháp, để điều tiết và quản lý một phần đáng kế các hoạt động công cộng theo đúng trách nhiệm của mình và vì lợi ích của nhân dân địa phương. Bên cạnh đó, Hội đồng nhân dân chỉ chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương về các quyết định của mình (thông qua cơ chế bầu cử và bãi nhiệm) và trước pháp luật (trước tòa án) mà không chịu trách nhiệm trước cơ quan hành chính cấp trên theo kiêu hành chính cấp trên - cấp dưới; có như vậy mới bảo đảm tự quản của CQĐÐP mỗi cấp. Từ các nghiên cứu lý luận và nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành và nhất là các quy định của Hiến pháp năm 2013 gần đây, chúng ta có thể hiểu khái niệm pháp luật về CQĐP như sau: Chính quyên địa phương là bộ máy chính quyên được thành lập trên một đơn vị hành chính lãnh tho gom có hội đồng dân cử do nhân dân địa phwong truc tiép bau ra dé quyét dinh các vấn đề của địa phương và có cơ quan hành chính để thực hiện các quyết định của hội dong dân cử và thực hiện nhiệm vụ công tại địa phương vì lợi ích của nhân dân địa phương.
* Khái niệm “tự quản của chính quyền địa phương” Theo nhiều nghiên cứu, khái niệm “ quản địa phương” bao tràm khái niệm “? chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyên địa phương” hoặc được hiểu tương đương, là khái niệm xuất hiện trong nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương. Khái niệm này đã được nhắc tới trong đầu tiên trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X khi Đảng ta đề ra chủ trương: “Phân cấp mạnh, giao quyên chủ động hơn nữa cho chính quyên địa phương,. bảo đảm quyên tự chủ và tự chịu trách nhiệm” cho CQĐP, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI:"bảo đảm quyên tự chủ và tự chịu trách nhiệm của COĐP trong phạm vì thẩm quyên được phân cấp ”_ Mới nhất là văn kiện Đại hội Đảng lan thir XII tiép tuc khang dinh trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 — 2030: Đổi mới mạnh mẽ phân cấp, phân quyền, ủy quyền và nâng cao hiệu quả phối hợp trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Củng có, hoàn thiện hệ thống chinh quyền địa phương,.
đồng thời bảo đảm tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, khuyến khích và thúc đầy sáng tạo của chính quyền địa phương. Nội dung mới của Hiến pháp năm 2013 về CQĐP có quy định vai trò, chức năng, nhiệm vụ của CQĐÐP. Tại khoản | cua Điều 112 khăng định rõ CQDP có hai loại nhiệm vụ được phân biệt với nhau: (1) Nhiệm vụ tô chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật tại địa phương: (2) Quyết định các vẫn đề của địa phương do luật định. Với nhiệm vụ thứ hai này, loại nhiệm vụ mà CQĐÐP thực hiện các nhiệm vụ xuất phát từ tính đặc thù của địa phương cũng chính là thể hiện nhiệm vụ có tính tự quản cao của CQĐP, nhằm phát huy lợi thế của mỗi địa phương trên thực tế.
10 Luat t6 chite CQDP nim 2015 (sửa đôi, bồ sung năm 2019) lần đầu tiên đã xác lập chế độ pháp lý về tự quản của CQDP và sử dụng khái niệm tương đương, nhân mạnh đến việc “phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của CỢODP ở các đơn vị hành chính trong việc thực hiện các nhiệm vụ quản lÿ nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật” (điềm b khoản 2 Điều 11), CQDP tu chu, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền (khoản 2 Điều 12). Có thể nói rằng quyền tự quản của các địa phương được các bản Hiến pháp bảo vệ là quyền quyết định mang tính tự chủ, độc lập với Nhà nước trong các công việc tại địa phương và ngoài địa phương, theo quyết định riêng, với nhân lực riêng và với khả năng kinh tế tài chính riêng trong khuôn khổ của các đạo luật. Tự quản địa phương là quyền và các khả năng thực tế của các địa phương, trong khuôn khổ các đạo luật, quy định và xây dựng một phần chủ yếu các công việc tại địa phương trong sự tự chịu trách nhiệm, vi hạnh phúc của nhân dân địa phương mình [32]. Bảo đảm bằng pháp luật về tự quản của CQĐP phải đồng hành với thực hiện chính sách phân quyền.
Phân quyền tức là phân quyền quản lý, ở đây là phi tập trung về quản lý hành chính, theo đó, nhà nước trung ương chuyển giao (bằng hiến pháp và luật) cho các địa phương những quyền hạn độc lập và toàn vẹn (bao gồm cả phương tiện vật chất, tài chính, nhân SỰ.), trong phạm vi đó, địa phương thực hiện một cách chủ động, độc lập và tự chịu trách nhiệm. Phân quyền trong mối quan hệ trung ương - địa phương thường được hiểu là chế độ tự quản địa phương. Phân quyền là hình thức tổ chức quản lý nhà nước bắt nguồn từ các nước Âu — Mỹ và hiện nay, là hình thức phổ biến trên thế giới, được thực hiện triệt dé ở Anh, Hoa Kỳ; còn ở các nước châu Âu lục địa (Pháp, Đức, Italia, Ba Lan, v.) vẫn đang áp dụng nguyên tắc phân quyền kết hợp với tản quyên [3].