CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG KHAI, MINH BẠCH THÔNG TIN TRONG TẬP ĐOÀN KINH TẾ 1. Khái át về tập đoàn kinh tế 1. Định nghĩa Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX những cụm từ như: “Cartel”, “ ssociation”, “Conglomerale”, “Connortium”… không còn xa lạ khi nói đến ở các nước Tây Âu hay ở các nước Mỹ La Tinh. Và gần đây nhất là “Group”, “Business group”, “Chaebol”, “Trust”, “Syndicate”.
Tất cả những cái t n đó đều mang nghĩa chủ đạo chung chỉ sự liên minh, liên kết, nhóm… khi nghi n cứu và dịch sang Tiếng việt được gọi chung là “Tập đoàn”. Dưới sự tác động của các quy luật trong nền kinh tế thị trường, của tiến bộ khoa học kỹ thuật, của nhu cầu tập trung vốn, giảm chi phí kinh doanh, phân tán rủi ro làm xu hướng hình thành các TĐKT ngày càng trở lên mạnh mẽ. Nhiều công ty, doanh nghiệp với năng lực sản xuất, năng suất lao động khác nhau làm cho tốc độ và quy mô phát triển không giống nhau dẫn đến hiện tượng hoặc là thôn tính, chèn ép hoặc là liên minh, liên kết với nhau để “phân chia” thị trường và khai thác những tiềm năng ri ng của từng công ty doanh nghiệp trong một “vỏ bọc” vững chắc hơn bởi một liên minh rộng hơn”. Những công ty, doanh nghiệp thống nhất liên kết với nhau phối hợp chiến lược, góp vốn, cung ứng sản phẩm, phân chia chiếm lĩnh thị trường; có một công ty đóng vai trò trung tâm chi phối, hỗ trợ các công ty trong cùng tập đoàn trong quá trình cạnh tranh, phát triển và bảo vệ các công ty con, công ty thành viên chống lại sự chèn ép, thôn tính… được gọi chung là “tập đoàn”.
Hiện nay, về mặt khoa học vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm TĐKT vẫn không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn là nội dung gây nhiều tranh luận trên phạm vi quốc tế, cũng như giữa các nhà khoa học chuyên ngành. Trong tiếng nh TĐKT có t n gọi chung là “Group” hay “Corporate group” hoặc “ lliance” được t chức tr n cơ sở kết hợp tính đặc thù của t chức kinh tế với cơ chế thị trường, là chỉ một nhóm công ty có tư cách pháp nhân ri ng biệt nhưng lại có mối quan hệ về phương diện quản lý. “Carte” có đặc trưng chỉ việc t chức nhằm kiểm soát giá bán hàng hóa, dịch vụ, kiểm soát giá mua nguyên vật liệu đầu 6 vào. Còn “Trust” hay còn gọi là tập đoàn đa quốc gia.
Dùng để chỉ mô hình liên minh độc quyền nhằm thu được lợi nhuận độc quyền cao, chiếm nguồn nguyên liệu và khu vực đầu tư; tạo ra sự độc quyền, kiểm soát sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đối với những hàng hóa, dịch vụ nhất định. Ở Nhật Bản, TĐKT (Keretsu) là thuật ngữ dùng để chỉ một nhóm các doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý nắm giữ c phần của nhau và thiết lập được mối quan hệ mật thiết về nguồn vốn, nguồn nhân lực, công nghệ, cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm. Mô hình này thường là các công ty hợp thành nhóm doanh nghiệp lấy một ngân hàng làm hạt nhân trung tâm liên kết thông qua quan hệ tín dụng cũng như quan hệ sở hữu hay chi phối vốn c phần.Tại đây, ngân hàng là trung tâm liên kết. Ngược lại, ở Hàn Quốc trung tâm liên kết là các công ty gia đình trong mô hình Chaebol.
Các công ty gia đình có mối quan hệ “thân hữu” với Chính phủ và nhận được nhiều ưu đãi từ phía nhà nước. Các công ty con thì nắm giữ c phần, vốn góp của nhau và hoạt động để đáp ứng yêu cầu vật tư và dịch vụ cho công ty mẹ. Các Chaebol chịu sự định hướng của Chính phủ về mục tiêu kinh doanh nhưng không bị ràng buộc bởi các mục tiêu xã hội và càng ngày có xu hướng mở rộng phạm vi hoạt động, bành trướng đa ngành, đa lĩnh vực. Mô hình Jituan Gongsi của Trung Quốc cũng có nhiều điểm tương đồng với mô hình tập đoàn ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Châu Âu, Châu Mỹ.
Tập đoàn doanh nghiệp là một t hợp kinh doanh - tập hợp các doanh nghiệp có liên quan với nhau bởi một công ty mẹ. Công ty mẹ của mỗi tập đoàn doanh nghiệp sẽ hoạt động như là hạt nhân của tập đoàn, còn các công ty con và các doanh nghiệp có liên quan khác đều là các pháp nhân được pháp luật công nhận, chia sẻ tất cả các quyền dân sự có liên quan và chịu trách nhiệm dân sự phát sinh. Những công ty trực thuộc hoặc các đơn vị không phải là pháp nhân sẽ không phải là các thành vi n độc lập của tập đoàn. Như vậy, hạt nhân liên kết trong các tập đoàn là các doanh nghiệp và TCTNN.
Từ cuối thế kỷ XX nhờ quá trình tư nhân hóa DNNN mà DNNN có quy mô nhỏ tập trung nguồn lực sát nhập thành các TCT lớn. TCT phân quyền kinh doanh cho các doanh nghiệp thành vi n và đa dạng hóa sở hữu và hình thức nắm giữ c phần đan chéo giữa các doanh nghiệp thành viên. TCT ngày càng có xu hướng thâu tóm và gia tăng sức mạnh, nguồn lực vào một vài lĩnh vực chủ chốt. Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa: “TĐKT là t hợp các công 7 ty hoạt động trong một ngành hay những ngành khác nhau trong phạm vi một nước hay nhiều nước, có tiềm lực kinh tế - tài chính mạnh, cơ cấu phức tạp, vừa kinh doanh vừa liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận.
Nó trở thành hình thức ph biến và có vai trò chi phối, tác động mạnh đến toàn bộ nền kinh tế ở nhiều nước trong giai đoạn hi n nay”1. Trong cuốn Thành lập và quản lý các tập đoàn kinh tế kinh doanh tại Việt Nam định nghĩa: “Tập đoàn kinh doanh là một cơ cấu t chức vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng li n kết kinh tế nhằm tăng cường, tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận”2. Như vậy, có thể thấy dù là tên gọi “tập đoàn kinh tế” hay “tập đoàn kinh doanh” nhưng điểm chung giữa các khái niệm này đều là một t hợp liên kết về tài chính, nghiên cứu, đào tạo, thông tin, công nghệ, vốn,… giữa các pháp nhân kinh doanh độc lập tr n cơ sở hoạt động đầu tư một ngành hay nhiều ngành khác nhau cùng hướng tới một lợi ích nhất định. Bản thân TĐKT không có tư cách pháp nhân.
Công ty mẹ, công ty con và các công ty thành viên liên kết có tư cách pháp nhân, trong đó công ty mẹ nắm quyền chi phối các chính sách, chiến lược phát triển, lãnh đạo công ty con. Vai trò tập đoàn kinh tế Thực tiễn đã chứng minh vai trò to lớn của tập đoàn kinh tế trong phát triển kinh tế thế giới, cụ thể là: - Thứ nhất, tập đoàn kinh tế là công cụ điều chỉnh cơ cấu kinh tế phục vụ yêu cầu và mục đích phát triển của quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc gia tr n trường quốc tế trong lĩnh vực kinh tế. - Thứ hai, với mô hình t chức kinh doanh có nhiều lợi thế tập trung về nguồn lực, quy mô, thương hiệu, tập đoàn kinh tế là nòng cột cho việc phát triển mô hình liên kết kinh doanh quy mô lớn, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. - Thứ ba, TĐKT có vai trò rất lớn trong việc cung cấp, trao đ i thông tin, những kinh nghiệm trong t chức, quản lý, nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh đối với các công ty thành viên.
1 Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam. Hà Nội: NXB Từ điển Bách khoa. 2 Trần Thị Lan Hương. Những vấn đề rút ra từ thí điểm mô hình TĐKT.
Tạp chí t chức Nhà nước số 8. 8 - Thứ tư, TĐKT giúp thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế, tăng cường tự do thương mại quốc tế, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia và vị thế quốc gia tr n trường quốc tế. Khái niệm pháp l ật về công khai, minh bạch thông tin trong tập đoàn kinh tế - Quan niệm về công khai, minh bạch Vấn đề công khai, minh bạch đã được đề cập đến ngay từ thời kỳ La Mã c đại, tuy nhi n phương thức và mục đích sử dụng các công cụ này có đôi nét khác biệt so với thời đại ngày nay. Nhà nước c đại đã sử dụng các công cụ này để nắm bắt r ràng và tường tận hơn những gì diễn ra trong xã hội, kiểm soát xã hội để phục vụ hoạt động quản trị.
Tuy nhi n nó cũng mang ý nghĩa hai chiều bởi minh bạch thông tin về người dân, xã hội đồng thời sẽ góp phần giám sát hoạt động của chính các quan chức Nhà nước. Trong thời đại ngày nay, công khai, minh bạch là những vấn đề được đề cập rất nhiều trong luật của các nước trên thế giới, nhất là đối với các quốc gia khi mà vấn đề công khai, minh bạch được nâng tầm trở thành một đạo luật ri ng, đóng vai trò quan trọng trong mọi hoạt động, mọi ng ngách đời sống người dân. Tại Vương quốc Anh vấn đề công khai, minh bạch được nâng tầm trở thành một đạo luật riêng với tên gọi Luật Minh bạch của chính quyền địa phương3. Nội dung chính của đạo luật này gồm: Những thông tin phải được công bố; Thông tin được khuyến nghị công bố; Bảng tóm tắt toàn bộ thông tin sẽ được công bố; Phát hiện và ngăn ngừa gian lận và Dữ liệu tài sản nhà ở xã hội sẽ được công bố.
Tại Thụy Điển, cởi mở và minh bạch là những tiền đề, nền tảng quan trọng trong xã hộidân chủ của quốc gia này. Có bốn đạo luật cơ bản tạo nên Hiến pháp Thụy Điển: Văn kiện của Chính phủ, Luật Tự do Báo chí, Luật cơ bản về tự do bày tỏ và Luật Kế vị. Những đạo luật này chỉ đứng sau Hiến pháp và được ưu ti n hơn các văn bản pháp luật khác, nó thường được xuất hiện rất sớm ở Châu Âu, nơi mà quyền bình đẳng, công khai được thực thi nhằm hướng tới chính phủ minh bạch. Công khai trongTừ điển Tiếng Việt được định nghĩa là “không giấu diếm, bí mật mà cho mọi người cùng biết”4.
Thuật ngữ công khai cũng thường được sử dụng 3 Bern. Gouverner sans gouverner une archéologie politique de la statistique. Paris: Presses universitaires de France. 4 Từ điển Tiếng Việt.
Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa. 9 gắn liền với thuật ngữ minh bạch.