phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng, hình, danh mục tài liệu tham khảo. Đề tài luận văn đƣợc kết cấu gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về HQHĐ và phân tích HQHĐ trong DN. Chƣơng 2: Thực trạng phân tích HQHĐ tại Chi nhánh Xăng dầu Quân đội Khu vực Tây Nguyên - Công ty TNHH MTV thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện phân tích HQHĐ tại Chi nhánh Xăng dầu Quân đội Khu vực Tây Nguyên - Công ty TNHH MTV thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội.
e 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về hiệu quả hoạt động Theo bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia (Wikipedia, 2022), hiệu quả là khả năng tạo ra kết quả mong muốn. Điều này cho thấy, hiểu một cách chung nhất, hiệu quả là một phạm trù kinh tế xã hội, là một chỉ tiêu phản ánh trình độ của con ngƣời sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia trong các hoạt động để đạt đƣợc kết quả với mục đích của mình.
Đây là một khái niệm rộng, bao gồm bao gồm tất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội (từ sản xuất KD đến y tế, giáo dục, quốc phòng.), nó không chỉ đề cập đến hiệu quả kinh tế mà còn có hiệu quả xã hội. Bản chất của HQHĐ là hiệu quả của nguồn lực, lao động xã hội đƣợc xác định bằng cách so sánh lƣợng kết quả hữu ích cuối cùng thu đƣợc với lƣợng hao phí nguồn lực, lao động xã hội. Từ bản chất của HQHĐ, có thể đúc kết lại rằng: “HQHĐ là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của DN vào hoạt động kinh doanh sao cho hao phí nguồn lực, tài lực là thấp nhất với lợi ích mang lại là cao nhất; lợi ích mang lại bao gồm lợi ích cho bản thân DN và lợi ích cho cả xã hội.” Với quan điểm này, tác giả đánh giá rằng HQHĐ đƣợc biểu hiện thông qua việc so sánh: so sánh giũa nguồn lực,tài lực bỏ ra với lợi ích thu đƣợc và ngƣợc lại, có thể so sánh giữa lợi ích thu đƣợc với nguồn lực, tài lực bỏ ra hoặc trên một đơn vị nguồn lực, tài lực bỏ ra. Đồng thời, HQHĐ phải đƣợc xem xét trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể; và phải xem xét e 10 về phƣơng diện hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Đồng thời, HQHĐ của DN là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh tế, nhà quản lý DN; vì vậy, việc phân tích HQHĐ là hết sức quan trọng và cần thiết. Vì phân tích HQHĐ là việc xem xét, đối chiếu, so sánh và đánh giá HQHĐ của DN thông qua các chỉ tiêu hiệu quả giữa hiện tại với quá khứ, giữa chi phí bỏ ra với kết quả thu đƣợc, giữa hoạt động này với hoạt động khác, giữa hiệu quả DN mình với hiệu quả của các DN khác trong cùng ngành kinh doanh.; các thông tin này s giúp cho các đối tƣợng sử dụng thông tin có cơ sở khoa học để đƣa ra quyết định của mình. Tóm lại, qua phân tích nêu trên cho thấy: HQHĐ và các chỉ tiêu phân tích HQHĐ là công cụ quan trọng và hữu ích để đánh giá chất lƣợng hoạt động của DN; nó giúp các nhà quản lý và các bên hữu quan đánh giá chính xác việc sử dụng và khai thác các nguồn lực của DN trong quá trình hoạt động kinh doanh có hiệu quả hay không; để dựa vào đó đƣa ra các quyết định phù hợp với mục tiêu, mục đích mà mình quan tâm. Phân loại về hiệu quả hoạt động Đứng trên mỗi khía cạnh khác nhau, HQHĐ s đƣợc đo lƣờng và đánh giá khác nhau; do đó, hiện nay có nhiều cách thức phân loại về HQHĐ, cụ thể: Căn cứ vào đối tượng cần đánh giá hiệu quả, có hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế – xã hội: - Hiệu quả kinh tế cá biệt thể hiện kết quả kinh doanh cũng nhƣ lợi ích mà DN thu đƣợc từ hoạt động kinh doanh.
Đó có thể là doanh thu hoặc cũng có thể là lợi nhuận DN mang về. - Hiệu quả kinh tế – xã hội thể hiện sự đóng góp của DN vào sự tăng trƣởng và phát triển bền vững của nền kinh tế nhƣ tạo việc làm, tăng nguồn thu ngân sách, nâng cao đời sống ngƣời dân… DN là một tế bào của nền kinh tế, mọi hoạt động kinh doanh của DN đều e 11 chịu ảnh hƣởng bởi xu hƣớng vận động của nền kinh tế do đó hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế – xã hội có mối quan hệ khăng khít, ảnh hƣởng lẫn nhau. Hiệu quả kinh tế cá biệt của DN s ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh tế – xã hội và hiệu quả kinh tế – xã hội chỉ đạt đƣợc trên cơ sở hiệu quả kinh tế cá biệt. Việc phân loại trên đòi hỏi DN phải có quan điểm toàn diện khi đánh giá hiệu quả kinh tế thƣơng mại.
Trong kinh doanh, DN không nên chỉ tính đến lợi ích của riêng DN mà bỏ qua các lợi ích kinh tế – xã hội. Căn cứ vào phạm vi xác định hiệu quả, hiệu quả kinh doanh được phân loại thành hiệu quả của chi phí tổng hợp và hiệu quả của chi phí bộ phận: Theo quy luật giá trị, trong nền kinh tế hàng hoá, trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở chi phí lao động xã hội cần thiết, điều này có nghĩa là giá trị của hàng hoá trao đổi không phải đƣợc quyết định bởi hao phí lao động cá biệt của nhà sản xuất cộng thêm phần chi phí của nhà kinh doanh thƣơng mại (nếu xuất hiện trung gian thƣơng mại trong quá trình trao đổi hàng hoá) mà bởi lao động xã hội cần thiết. Hàng hoá chỉ đƣợc trao đổi, đƣợc thị trƣờng chấp nhận khi hao phí lao động cá biệt để tạo ra một đơn vị sản phẩm của nhà sản xuất cộng thêm phần chi phí của nhà kinh doanh thƣơng mại (nếu có) phải bằng hao phí lao động xã hội cần thiết để làm ra một đơn vị hàng hóa đó. Trong hoạt động kinh doanh thƣơng mại của DN tồn tại nhiều khoản mục chi phí nhƣ chi phí bán hàng, chi phí quản lý DN, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ thuê ngoài,… Để thuận lợi cho việc nắm rõ nội dung các khoản chi cũng nhƣ thuận tiện cho công tác quản lý, mỗi khoản mục chi phí này lại đƣợc phân loại thành các khoản mục chi phí chi tiết hơn.
Do vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh, DN thƣơng mại cần đánh giá tổng hợp các loại chi phí trên đồng thời phải đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí. Điều này có ý nghĩa quan trọng giúp công tác quản lý tìm đƣợc hƣớng giảm e 12 chi phí tổng hợp và chi phí bộ phận, thông qua đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN. Căn cứ vào chỉ tiêu phản ánh hiệu quả, có hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối: - Hiệu quả tuyệt đối: Là lƣợng hiệu quả đƣợc xác định cho từng phƣơng án kinh doanh trong từng kỳ kinh doanh. Hiệu quả tuyệt đối chính là phần chênh lệch giữa kết quả thu đƣợc với chi phí bỏ ra để có đƣợc kết quả đó.
- Hiệu quả tương đối hay hiệu quả so sánh: Đƣợc xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phƣơng án kinh doanh khác nhau trong một kỳ kinh doanh hoặc giữa các kỳ kinh doanh với nhau. Trong kinh doanh, để thực hiện các mục tiêu kinh doanh, DN có thể có nhiều phƣơng án khác nhau. Mỗi phƣơng án mang lại mức hiệu quả khác nhau với mức chi phí khác nhau. Việc tính toán các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối, hiệu quả tƣơng đối giúp DN lựa chọn đƣợc phƣơng án kinh doanh tối ƣu nhất.
CÔNG TÁC TỔ CHỨC PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG Công tác phân tích HQHĐ ở DN phụ thuộc vào loại hình, điều kiện, quy mô KD và trình độ quản lý ở DN. Do vậy, công tác tổ chức phân tích cần phải đặt ra nhƣ thế nào để thích hợp với hình thức tổ chức KD ở DN. Công tác tổ chức phân tích HQHĐ thƣờng đƣợc tiến thành theo ba bƣớc: Chuẩn bị phân tích, tiến hành phân tích, tổng hợp và đánh giá kết quả phân tích 1. Công tác chuẩn bị phân tích Chuẩn bị phân tích hay còn gọi là lập kế hoạch cho phân tích là một khâu vô cùng quan trọng ảnh hƣởng nhiều đến chất lƣợng, thời hạn và tác dụng của phân tích HQHĐ đối với việc cải tiến và hoàn thiện chế độ quản lý KD.
Chuẩn bị phân tích là bƣớc đầu tiên của tổ chức phân tích HQHĐ nhằm tạo ra tiền đề và điều kiện cụ thể trƣớc khi tiến hành phân tích HQHĐ. Tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu của DN mà xác định nội dung cần phân tích, thời e 13 gian tiến hành phân tích, nhân sự tham gia, và tài liệu chuẩn bị cho phân tích. Trong giai đoạn chuẩn bị phân tích, DN cần chuẩn bị một số vấn đề sau: - Lựa chọn loại hình phân tích HQHĐ: có nhiều loại hình phân tích HQHĐ khác nhau tùy vào mục tiêu phân tích và nội dung phân tích cụ thể. Vì vậy, DN cần phải chỉ ra và lựa chọn đƣợc loại hình phân tích phù hợp, cụ thể: + Dựa vào thời điểm phân tích, phân tích HQHĐ bao gồm ba loại hình thức: Phân tích trƣớc, phân tích hiện hành và phân tích sau.
Phân tích trƣớc là việc phân tích khi mà quá trình hoạt động KD chƣa diễn ra và thƣờng đƣợc sử dụng để phân tích các dự án, các kế hoạch hay phân tích các dự toán, định mức. Phân tích hiện hành là việc phân tích đƣợc tiến hành đồng thời với quá trình hoạt động KD nhằm thực hiện chức năng kiểm tra, giá sát tình hình thực hiện kế hoạch và nhiệm vụ hoạt động KD. Phân tích sau là việc phân tích diễn ra khi kết thúc quá trình hoạt động KD, nhằm giúp các nhà quản lý DN đánh giá đƣợc tình hình thực hiện kế hoạch hay mục tiêu đề ra, xác định đƣợc nguyên nhân, mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố đến kết quả và HQHĐ đạt đƣợc.