CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.1 Khái niệm, mục đích và ý nghĩa phân tích báo cáo tài chính.1 Khái niệm về phân tích BCTC doanh nghiệp vay vốn tại NHTM. [1] [2] Phân tích được hiểu chung nhất là sự phân chia, chia nhỏ các sự vật và hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa các bộ phận cấu thành của sự vật và hiện tượng đó. Trên cơ sở đó, nhận thức được bản chất, tính chất và hình thức phát triển của các sự vật và hiện tượng đang nghiên cứu trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa các sự vật và hiện tượng. Hiện nay, có khá nhiều cách diễn giải khác nhau về khái niệm phân tích BCTC.
Sau đây là một số cách diễn giải tiêu biểu: Theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ và TS. Nghiêm Thị Thà (2010) thì “Phân tích BCTC doanh nghiệp là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh giá thực trạng năng lực tài chính, xu hướng diễn biến các hoạt động TCDN thông qua các thông tin được trình bày trên BCTC, cung cấp cho nhà quản lý và những đối tượng quan tâm cơ sở để đánh giá và dự đoán về TCDN, từ đó có các quyết định phù hợp với lợi ích của họ” [1, trang 24]. Theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Văn Công (2010) thì “Phân tích BCTC là việc xem xét, kiểm tra về nội dung, thực trạng, kết cấu các chỉ tiêu trên BCTC; từ đó so sánh, đối chiếu tìm ra năng lực, nguồn tài chính tiềm tàng và xu hướng phát triển tài chính của DN nhằm xác lập các giải pháp khai thác sử dụng nguồn tài chính có hiệu quả” [2, trang 128]. Theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang (2013) thì “Phân tích BCTC thực chất là phân tích các chỉ tiêu tài chính trên hệ thống báo cáo hoặc các chỉ tiêu tài chính mà nguồn thông tin từ hệ thống BCTC nhằm đánh giá tình hình TCDN, cung cấp thông tin cho mọi đối tượng có nhu cầu theo những mục tiêu khác nhau” [6, trang 17].
e 7 Như vậy, các tác giả trên đều thống nhất cho rằng mục đích của phân tích báo cáo tài chính là nhằm đánh giá tình hình tài chính và hoạt động của DN để có cơ sở ra những quyết định hợp lý. Việc thực hiện phân tích báo cáo tài chính của DN có thể do: Bản thân DN, các tổ chức bên ngoài DN bao gồm các nhà cung cấp vốn như ngân hàng, cơ quan quản lý Nhà nước, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, nhà cung cấp, các nhà đầu tư. Tác giả cho rằng, tất cả các chủ thể trên đều có lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến DN đều quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Do đó, tác giả đồng tình với các quan điểm trên.
Từ những quan điểm trên, tác giả cho rằng phân tích BCTC là sử dụng các phương pháp để đánh giá thực trạng năng lực tài chính, xu hướng diễn biến các hoạt động tài chính DN thông qua các thông tin được trình bày trên BCTC, cung cấp cho những đối tượng quan tâm những thông tin mà thông qua đó có thể đánh giá và dự đoán về tình hình tài chính DN. Trên cơ sở đó, giúp cho các chủ thể quan tâm đến tài chính DN đưa ra các quyết định quản lý đúng đắn, phù hợp với mục tiêu họ quan tâm.2 Mục đích, ý nghĩa phân tích BCTC doanh nghiệp vay vốn tại NHTM. Với tư cách là công cụ của quản lý, phân tích báo cáo tài chính có mục đích chính là giúp người sử dụng thông tin đánh giá chính xác sức mạnh tài chính, khả năng sinh lãi và triển vọng của doanh nghiệp; từ đó, lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu. Bởi vậy, phân tích báo cáo tài chính là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như: Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, các nhà đầu tư, các cổ đông, những người cho vay, các nhân viên ngân hàng, các nhà quản lý.
Mối nhóm người có những nhu cầu thông tin khác nhau nên mục đích của việc phân tích BCTC của DN thường chú trọng vào những khía cạnh riêng trong bức tranh tài chính của một DN và do đó mỗi chủ thể ra quyết định có những mối quan tâm khác nhau khi phân tích BCTC DN. e 8 Đối với ngân hàng mối quan tâm của họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của DN. Vì vậy, họ đặc biệt chú ý tới số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh; từ đó, so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Ngoài ra, các ngân hàng còn rất quan tâm đến số lượng vốn của chủ sở hữu; bởi vì, số vốn chủ sở hữu này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp DN gặp rủi ro.
Không mấy ai sẵn sàng cho vay nếu các thông tin cho thấy người vay không bảo đảm chắc chắn rằng khoản vay đó có thể và sẽ được thanh toán khi đến hạn. Các ngân hàng cũng quan tâm đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp vì đó là cơ sở của việc hoàn trả vốn và lãi vay dài hạn.2 Cơ sở dữ liệu sử dụng trong phân tích. Để có được đầy đủ thông tin phục vụ cho phân tích BCTC thì cần phải thu thập từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, bao gồm thông tin từ hệ thống BCTC và các nguồn thông tin khác có tác động đến HĐKD của DN.1 Hệ thống Báo cáo tài chính BCTC là một bức tranh tổng hợp phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh và các quan hệ tài chính của DN tại một thời điểm hay một thời kỳ. BCTC được trình bày theo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán quy định.
Đảm bảo yêu cầu chính xác và hợp lý, BCTC phải được lập và trình bày theo quy định của Bộ Tài chính. Theo Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành – Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính, hệ thống BCTC áp dụng cho tất cả các DN thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước ở Việt Nam bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo: Cụ thể, Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-DN); Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02-DN); Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03-DN); Bản thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09-DN). e 9 - Bảng cân đối kế toán là BCTC tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản của DN tại một thời điểm nhất định. Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của DN theo cơ cấu của tài sản và cơ cấu nguồn vốn hình thành của tài sản đó.
Bảng cân đối kế toán là một tài liệu quan trọng bậc nhất giúp các nhà phân tích đánh giá được tổng quát tình hình tài chính, khả năng thanh toán, cơ cấu vốn và trình độ sử dụng vốn của DN. - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tổng hợp cho biết tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng tại những thời kỳ nhất định. Nó cung cấp các thông tin tổng hợp về tình hình tài chính và kết quả sử dụng các tiềm năng về sử dụng vốn, lao động, kỷ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của khách hàng. Đồng thời, nó cũng giúp phân tích so sánh được doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng, dịch vụ với tổng chi phí phát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành kinh doanh.
Ngoài ra theo quy định ở Việt Nam, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh còn có thêm phần kê khai tình hình thực hiện nghĩa vụ của khách hàng đối với ngân sách Nhà nước và tình hình thực hiện thuế giá trị gia tăng (VAT). Hạn chế của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là kết quả lệ thuộc rất nhiều vào quan điểm của kế toán trong quá trình hạch toán. Đồng thời cũng do nguyên tắc kế toán về ghi nhận doanh thu, theo đó doanh thu được ghi nhận khi nghiệp vụ mua bán hoàn thành, tức là khi sở hữu hàng hóa có thể xảy ra vào một thời điểm khác. Nhược điểm này dẫn đến sự cần thiết phải phân tích Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp các thông tin giúp người sử dụng đánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp, đánh giá khả năng thanh toán e 10 của doanh nghiệp, phân tích mối quan hệ giữa lợi tức ròng và lưu chuyển tiền tệ ròng, dự đoán trong tương lai lượng tiền mang lại từ các hoạt động của DN. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần: + Lưu chuyển từ hoạt động sản xuất kinh doanh + Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư + Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính - Bản thuyết minh BCTC là một bộ phận hợp thành không thể tách rời của BCTC doanh nghiệp được lập nhằm cung cấp các thông tin về tình hình sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, giải thích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được trình bày, giải thích rõ ràng, cụ thể như các thông tin về đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, chế độ kế toán áp dụng, tình hình và lý do biến động một số tài sản và nguồn vốn quang trọng.
- Báo cáo thường niên là tài liệu quan trọng được doanh nghiệp lập hàng năm để truyền tải thông tin về quản trị, hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính cũng như các khía cạnh khác của doanh nghiệp trong một năm và định hướng, chiến lược trong thời gian tới và nguồn thông tin trong báo cáo thường niên bổ sung thêm các thông tin tài chính và phi tài chính để đánh giá về tình hình tài chính trong quan hệ với chiến lược phát triển của khách hàng 1.2 Các nguồn thông tin khác có tác động đến HĐKD của doanh nghiệp Ngoài ra, để phục vụ cho việc phân tích BCTC được chính xác và giảm thiểu rủi ro ban đầu cho hoạt động cấp tín dụng, cán bộ ngân hàng có thể sử dụng các công cụ khác như tra cứu thông tin từ Trung tâm thông tin tín dụng (CIC); thông tin từ bạn hàng của KH, cơ quan thuế,… để thu thập, đối chiếu thông tin các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính.