Chương 1: Cơ sở lý luận về về công tác kiểm soát nội bộ thanh toán quốc tế trong các Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát nội bộ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Phú Tài. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Phú Tài. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ THANH TOÁN QUỐC TẾ TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Khái niệm và mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Khái niệm Trong tổ chức có thể có nhiều cách phân cấp quản lý khác nhau song chung nhất thường là phân thành quản lý vĩ mô và quản lý vi mô. Để đảm bảo hiệu quả hoạt động, tất yếu mỗi đơn vị cơ sở đều tự kiểm tra mọi hoạt động của mình trong tất cả các khâu.
Công việc rà soát này có tên là kiểm soát. Kiểm soát có thể được hiểu theo nhiều chiều: cấp trên kiểm soát cấp dưới thông qua chính sách, biện pháp cụ thể, đơn vị này kiểm soát đơn vị khác thông qua việc chi phối đáng kể quyền và lợi ích tương ứng, nội bộ đơn vị kiểm soát lẫn nhau thông qua quy chế và thủ tục quản lý… Tuy nhiên, thông dụng nhất vẫn là kiểm soát nội bộ đơn vị. Có nhiều khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ đã được đưa ra: Khái niệm 1: HTKSNB là toàn bộ các quy định về tổ chức quản lý, chức năng, nhiệm vụ, phương pháp công tác mà một đơn vị phải tuân theo.( Nguyễn Thị Thu Thảo, 2014) Khái niệm 2: HTKSNB là toàn bộ những chính sách, quy định và thủ tục kiểm soát do Ban Giám đốc của đơn vị thiết lập nhằm đảm bảo tính chặt chẽ và hiệu quả của các hoạt động trong khả năng có thể. (Theo IAS 400) Khái niệm 3: Theo COSO (Committee of sponsoring organization of treadway commision), HTKSNB là một quy trình chịu ảnh hưởng của người quản lý, hội đồng quản trị, và các nhân viên của tổ chức, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, nhằm thực hiện các mục tiêu của kiểm soát nội bộ.
e 10 Khái niệm thứ 3 được đánh giá là khái quát đầy đủ và toàn diện nhất về HTKSNB. Theo đó, ta có thể hiểu được bản chất của HTKSNB trên những điểm như sau: Thứ nhất, HTKSNB là một quy trình. Đó là một chuỗi các công việc được thực hiện liên tục và toàn diện ở tất cả các khâu trong tổ chức, chứ không phải một hoạt động, một công việc diễn ra đơn lẻ, nhất thời. Nó gắn liền với quá trình hoạt động của tổ chức.
Thứ hai, HTKSNB được thực hiện bởi nhân tố con người. Đó là hội đồng quản trị, các nhà quản lý và các nhân viên của tổ chức. Con người trực tiếp tham gia vào quá trình kiểm soát thông qua việc cài đặt và thực hiện các chính sách, thủ tục kiểm soát trong từng hoạt động cụ thể, và từ đó có sự kiểm soát tổng thể đối với hoạt động của tổ chức. Chính vì vậy, nhân tố con người đóng vai trò quyết định trong HTKSNB.
Thứ ba, HTKSNB chỉ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không phải đảm bảo tuyệt đối cho nhà quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Sự đảm bảo hợp lý đó là mức tốt nhất có thể đối với từng HTKSNB. Thực tế là, mỗi HTKSNB cho dù được thiết kế hoàn hảo tới đâu cũng không thể ngăn ngừa hay phát hiện hết các sai phạm có thể xảy ra, đó là hạn chế cố hữu của HTKSNB. Thứ tư, HTKSNB được thiết lập nhằm hướng tới những mục tiêu nhất định của đơn vị, bao gồm 4 mục tiêu cơ bản như trên.
Để thực hiện được các mục tiêu trên, các nhà quản lý cần thiết lập, thực hiện và thường xuyên kiểm tra, đánh giá các quy định, chính sách và các thủ tục kiểm soát có thực hiện được những mục tiêu mong muốn hay không. Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ HTKSNB được thiết lập nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của đơn vị: Mục tiêu kết quả hoạt động (Hiệu quả và hiệu năng hoạt động) - Sử dụng có hiệu quả các tài sản và các nguồn lực; e 11 - Hạn chế rủi ro; - Đảm bảo sự phối hợp, làm việc của toàn bộ nhân viên để đạt được mục tiêu của DN với hiệu năng và sự nhất quán; - Tránh được các chi phí không đáng có/ việc đặt các lợi ích khác (của nhân viên, của khách hàng.) lên trên lợi ích của DN. Mục tiêu thông tin (Độ tin cậy, tính hoàn thiện và cập nhật của thông tin tài chính và TT quản lý) - Các báo cáo cần thiết được lập đúng hạn và đáng tin cậy để ra quyết định trong nội bộ DN; - Thông tin gửi đến Ban GĐ, HĐQT, các cổ đông và các cơ quan quản lý phải có chất lượng và tính nhất quán; - BCTC và các báo cáo quản lý khác được trình bày một cách hợp lý và dựa trên các chính sách kế toán đã được xác định rõ ràng. Mục tiêu tuân thủ Đảm bảo mọi hoạt động của đơn vị đều tuân thủ: - Các luật và quy định của NN; - Các yêu cầu quản lý; - Các chính sách và quy trình nghiệp vụ của đơn vị.
Những mục tiêu của HTKSNB rất rộng, bao trùm lên mọi mặt hoạt động và có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của đơn vị. Các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Môi trường kiểm soát chung Môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ các yếu tố bên trong và bên ngoài đơn vị ảnh hưởng đến quá trình thiết lập, vận hành và tính hữu hiệu của HTKSNB, trong đó chủ yếu là quan điểm, nhận thức và hành động của các nhà quản lý trong đơn vị. Đặc thù về quản lý e 12 Một nhà quản lý có quan điểm, triết lý trong quản lý như thế nào, họ sẽ tạo môi trường như thế.
Quan điểm, triết lý quản lý đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong đơn vị. Nếu một nhà quản lý cho rằng công tác kiểm tra, kiểm soát là quan trọng đối với hoạt động kinh doanh, họ sẽ có nhận thức và hành động đúng đắn về hoạt động kiểm tra, kiểm soát thông qua việc xây dựng và thực hiện tuân thủ các quy định và chế độ đề ra. Việc phân chia quyền lực trong tổ chức cũng tác động đến hiệu quả của kiểm soát. Trường hợp quyền lực tập trung quá ít thì kiểm soát nếu có chỉ là hình thức, bị vô hiệu hoá.
Nếu quá phân tán thì sẽ gây ra sự chồng chéo, có thể bỏ sót một số chốt kiểm soát. Đặc thù về tổ chức Một cơ cấu tổ chức hợp lý trong ngân hàng sẽ tạo được môi trường kiểm soát tốt. Cơ cấu tổ chức hợp lý đảm bảo một hệ thống xuyên suốt từ trên xuống dưới trong việc ban hành các quyết định cũng như kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quyết định đó trong toàn bộ ngân hàng. Để thiết lập một cơ cấu tổ chức hợp lý như vậy, nhà quản lý phải tuân thủ một số nguyên tắc sau: Thiết lập sự điều hành và kiểm soát trên toàn bộ hoạt động của ngân hàng, không bỏ sót lĩnh vực nào, đồng thời không có sự chồng chéo giữa các bộ phận.
Thực hiện sự phân chia độc lập giữa ba chức năng: xử lý nghiệp vụ, ghi chép sổ sách và bảo quản tài sản. Đảm bảo sự độc lập tương đối giữa các bộ phận để duy trì sự kiểm soát lẫn nhau. Chính sách nhân sự Chính sách nhân sự bao gồm tất cả các phương pháp quản lý cũng như chế độ đối với người lao động như: chính sách tuyển dụng, đào tạo, chính sách tiền lương, chế độ đãi ngộ, đề bạt… Chính sách nhân sự tốt sẽ tạo môi e 13 trường tốt cho kiểm soát bởi nhân tố con người chính là chủ thể trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của ngân hàng. Nếu nhân viên có năng lực và đáng tin cậy, nhiều quá trình kiểm soát có thể không cần thực hiện mà vẫn đảm bảo được các mục tiêu đề ra của kiểm soát nội bộ.
Bên cạnh đó, mặc dù ngân hàng có thiết kế và vận hành các chính sách, thủ tục kiểm soát chặt chẽ nhưng với đội ngũ nhân viên kém năng lực trong công việc và thiếu trung thực về phẩm chất đạo đức thì kiểm soát nội bộ cũng không thể phát huy hiệu quả. Công tác kế hoạch và định mức Hệ thống kế hoạch và dự toán trong ngân hàng bao gồm các kế hoạch kinh doanh, huy động và sử dụng vốn, kế hoạch đầu tư, sửa chữa tài sản cố định, đặc biệt là cân đối tình hình tài chính, kết quả hoạt động. Nếu việc lập và thực hiện kế hoạch được tiến hành khoa học và nghiêm túc thì hệ thống kế hoạch và định mức đó sẽ trở thành công cụ kiểm soát rất hữu hiệu. Đó cũng là căn cứ để xem xét tiến độ thực hiện kế hoạch, theo dõi những nhân tố ảnh hưởng đến kế hoạch đã lập nhằm phát hiện những vấn đề bất thường và kịp thời điều chỉnh.
Kiểm toán nội bộ Là một nhân tố rất quan trọng trong hệ thống kiểm soát nội bộ, bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát, đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của ngân hàng. Thực chất, đó cũng là công việc kiểm soát: kiểm soát lại chức năng kiểm soát khác. Từ đó phát hiện ra những khâu còn yếu, còn thiếu, những chính sách, thủ tục lỗi thời để từ đó đề xuất phương án cải tiến. Kiểm toán nội bộ không được cài đặt trong quy trình nghiệp vụ mà được thiết kế độc lập với các hoạt động nghiệp vụ.
Về tổ chức, bộ phận kiểm toán nội bộ phải trực thuộc một cấp cao đủ để không giới hạn phạm vi hoạt động của nó, đồng thời phải được giao một quyền hạn tương đối rộng rãi để e 14 đảm bảo hiệu lực hoạt động. Các nhân tố bên ngoài Các nhân tố bên ngoài tuy không thuộc sự kiểm soát của các nhà quản lý nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ, phong cách điều hành của nhà quản lý, cũng như việc thiết kế, vận hành các thủ tục kiểm soát nội bộ.