CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐÔNG NGÂN QUỸ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về kiểm soát nội bộ trong hoạt động ngân hàng 1.1 Hệ thống Kiểm soát nội bộ theo Báo cáo COSO 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống lý luận Kiểm soát Nội bộ COSO Từ thập niên 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ tại Hoa Kỳ đã xuất bản một loạt các báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu kiểm soát nội bộ trong các cuộc kiểm toán. Đến giữa thập niên 1970, kiểm soát nội bộ được quan tâm đặc biệt trong các lĩnh vực thiết kế hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiến hệ thống kiểm soát nội bộ và vận dụng trong các cuộc kiểm toán. Đạo luật chống hành vi hối lộ ở nước ngoài 1977 (Foreign Corrupt Practices Act of 1977), các báo cáo của Cohen Commission và FEI (Financial Executives Institute) đều đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ. Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) cũng đưa ra các điều luật bắt buộc các nhà quản trị phải báo cáo về hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức.
Năm 1979, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ – AICPA đã thành lập một Uỷ ban tư vấn đặc biệt về kiểm soát nội bộ nhằm đưa ra các hướng dẫn về việc thiết lập và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ. Giai đoạn từ năm 1980 đến 1985 đã chỉ ra sự phát triển và sự sàng lọc của các chuẩn mực kiểm toán liên quan đến kiểm soát nội bộ thông qua các lần ban hành và sửa đổi của Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ về các chuẩn mực về sự đánh giá của kiểm toán viên độc lập về kiểm soát nội bộ và e 8 báo cáo về kiểm soát nội bộ. Hiệp hội Kiểm toán nội bộ (Institute of Internal Audit – IIA) cũng ban hành chuẩn mực và hướng dẫn kiểm toán viên nội bộ về bản chất của kiểm soát và vai trò của các bên liên quan trong việc thiết lập, duy trì và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ. Từ năm 1985 trở đi, sự quan tâm tập trung vào kiểm soát nội bộ thể hiện với cường độ mạnh mẽ hơn.
Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính được thành lập năm 1985. Hoạt động của Hội đồng này là nhằm mục tiêu xác định các yếu tố gian lận trên báo cáo tài chính và đưa ra các đề xuất để giảm thiểu phạm vi ảnh hưởng của chúng. Hội đồng này cũng đã đưa ra một loạt các vấn đề về kiểm soát nội bộ. Nó nhấn mạnh đến tầm quan trọng của môi trường kiểm soát, các quy tắc về đạo đức, các Uỷ ban Kiểm toán và chức năng của kiểm toán nội bộ.
Vì thế, Uỷ ban các tổ chức đồng bảo trợ (COSO – Committee of Sponsoring Organizations) của Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính đã được thành lập nhằm nghiên cứu về kiểm soát nội bộ. Đến năm 1992, sau quá trình xây dựng, hoàn chỉnh lý luận về kiểm soát nội bộ, Báo cáo của COSO được công bố dưới tiêu đề: Kiểm soát nội bộ – Khuôn khổ hợp nhất (Internal Control – Integrated Framework). Khung COSO 1992 được coi là khung kiểm soát nền tảng để vận dụng kiểm soát nội bộ ở nhiều lĩnh vực khác nhau, và cũng đã được hiệu chỉnh gần nhất vào năm 2013.2 Nội dung cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ Theo COSO 2013, kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi Ban giám đốc, nhà quản lý, các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu: * Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả hoạt động. e 9 * Mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính.
* Mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định được tuân thủ. Dù đặc điểm hoạt động của mỗi tổ chức có khác nhau thì vẫn có 05 bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ, bao gồm: Môi trường kiểm soát. Đánh giá rủi ro. Hoạt động kiểm soát.
Thông tin và truyền thông. Môi trường kiểm soát: Tạo ra sắc thái chung trong đơn vị - nơi mỗi người tiến hành các hoạt động và thực hiện nghĩa vụ kiểm soát của mình. Chính môi trường kiểm soát làm nền tảng cho các thành phần khác của HTKSNB. Môi trường kiểm soát là nền tảng cho toàn bộ các cấu phần của hệ thống kiểm soát nội bộ, bao gồm cơ cấu tổ chức, cơ chế phân cấp, phân quyền, các chính sách, thông lệ về nguồn nhân lực, đạo đức nghề nghiệp, năng lực, cách thức quản trị điều hành của nhà lãnh đạo.
Đánh giá rủi ro: Mỗi đơn vị phải ý thức được và đối phó với rủi ro mà mình gặp phải. Tiền đề cho việc đánh giá rủi ro là việc đặt ra mục tiêu (bao gồm mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động của doanh nghiệp. Đánh giá rủi ro là việc nhận dạng và phân tích các rủi ro đe dọa các mục tiêu của mình. Trên cơ sở nhận dạng và phân tích các rủi ro, nhà quản lý sẽ xác định rủi ro nên được xử lý như thế nào.
Hoạt động kiểm soát: Là những chính sách và thủ tục để đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện. Hoạt động kiểm soát diễn ra trong toàn đơn vị ở mọi cấp độ và mọi hoạt động. Thông tin và truyền thông: Các thông tin cần thiết phải được nhận e 10 dạng, thu thập và trao đổi trong đơn vị dưới hình thức và thời gian thích hợp sao cho nó giúp mọi người trong đơn vị thực hiện được nhiệm vụ của mình. Thông tin và truyền thông tạo ra báo cáo, chứa đựng các thông tin cần thiết cho việc quản lý và kiểm soát đơn vị.
Sự trao đổi thông tin hữu hiệu đòi hỏi phải diễn ra theo nhiều hướng: từ cấp trên xuống cấp dưới, từ dưới lên trên và giữa các cấp với nhau. Mỗi cá nhân cần hiểu rõ vai trò của mình trong HTKSNB cũng như hoạt động của cá nhân có tác động tới công việc của người khác như thế nào. Ngoài ra, cũng cần có sự trao đổi hữu hiệu giữa đơn vị với các đối tượng bên ngoài như khách hàng, nhà cung cấp, cổ đông và các cơ quan quản lý. Giám sát: là quá trình đánh giá chất lượng của HTKSNB qua thời gian.
Những khiếm khuyết của HTKSNB cần được báo cáo lên cấp trên và điều chỉnh lại khi cần thiết. Trong môi trường kiểm soát, nhà quản lý đánh giá rủi ro đe dọa đến việc đạt được các mục tiêu cụ thể. Hoạt động kiểm soát được tiến hành nhằm đảm bảo rằng các chỉ thị của nhà quản lý nhằm đối phó với rủi ro được thực hiện trong thực tế. Trong khi đó, các thông tin thích hợp cần phải được thu thập và quá trình trao đổi thông tin diễn ra thông suốt trong toàn bộ tổ chức.
Quá trình trên sẽ được giám sát và điều chỉnh lại khi cần thiết.2 Hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại-Basel 1.1 Lịch sử phát triển hệ thống lý luận KSNB trong ngân hàng Để có thêm tài liệu về vấn đề kiểm soát hoạt động ngân hàng và tăng cường kiểm soát thông qua việc hướng dẫn và khuyến khích thực hành quản lý rủi ro, tháng 9/1998, Ủy ban Basel đã phát hành tài liệu Khuôn khổ cho Hệ Thống Kiểm Soát Nội Bộ trong các Ngân hàng. Khuôn khổ kiểm soát nội bộ trong tài liệu này được thiết kế cho các ngân hàng quốc tế. Nội dung hướng dẫn nhất quán với báo cáo của COSO về Kiểm soát nội bộ – Khuôn khổ hợp e 11 nhất mà đã được áp dụng tại các ngân hàng lớn của Hoa Kỳ. Báo cáo của Basel về Khuôn khổ cho hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng mô tả những yếu tố chủ yếu của một hệ thống kiểm soát nội bộ lành mạnh, nêu ra những kinh nghiệm của những quốc gia thành viên và những nguyên tắc đã được trình bày trong các tài liệu trước đây của Ủy ban.
Mục tiêu của báo cáo này là nêu ra một số nguyên tắc mà cơ quan thanh tra sử dụng để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng. Một hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả là một thành phần quan trọng của quản trị ngân hàng và là nền tảng cho hoạt động lành mạnh và an toàn của các Ngân hàng. Báo cáo này của Basel cũng không tập trung vào những điểm hoặc hoạt động cụ thể của một ngân hàng. Sự áp dụng những nguyên tắc nêu ra trong báo cáo phụ thuộc vào bản chất, sự phức tạp và rủi ro trong hoạt động của ngân hàng.
Về cơ bản Hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ ngân hàng theo báo cáo Basel gồm 02 phần: Nguyên tắc của hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng. Mục tiêu và vai trò của các nguyên tắc kiểm soát nội bộ ngân hàng.2 Nguyên tắc của hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng Những nguyên tắc là những yếu tố cần thiết của KSNB. Basel đề ra 13 nguyên tắc thiết kế và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng,13 nguyên tắc chung được chia thành 5 nhóm với những nguyên tắc cụ thể tương ứng như sau: Nhóm 1: Giám sát điều hành và văn hóa kiểm soát: có 3 nguyên tắc; Nhóm 2: Xác định và đánh giá rủi ro: 1 nguyên tắc; Nhóm 3: Các hoạt động kiểm soát và phân công phân nhiệm: có 2 nguyên tắc; Nhóm 4: Thông tin truyền thông: gồm 3 nguyên tắc; Nhóm 5: Giám sát và các hoạt động sửa chữa: gồm 4 nguyên tắc. Về cơ bản, các nguyên tắc này tương tự như các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ theo báo cáo e 12 của COSO.
Cụ thể như sau: Nhóm 1: Giám sát điều hành và văn hóa kiểm soát Nguyên tắc 1: Hội đồng quản trị có trách nhiệm xét duyệt và kiểm tra định kỳ toàn bộ chiến lược kinh doanh và những chính sách quan trọng của ngân hàng, hiểu rõ những rủi ro trọng yếu của ngân hàng, xây dựng những mức độ có thể chấp nhận được đối với các rủi ro này và đảm bảo rằng Ban điều hành đã thực hiện các công việc cần thiết để xác định, đo lường, theo dõi và kiểm tra những rủi ro này; xét duyệt cơ cấu tổ chức; đảm bảo rằng Ban điều hành đang giám sát sự hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ.