CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 Khái quát KSNB theo COSO 1.1 Khái niệm KSNB Năm 1929, thuật ngữ KSNB được đề cập chính thức trong một Công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Seserve Bulletin). Thông qua đó, khái niệm KSNB và vai trò của hệ thống KSNB trong công ty chính thức được công nhận như là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm toán viên. Khi thực hiện chức năng nhận xét báo cáo tài chính, kiểm toán viên nhận thức rằng không cần thiết kiểm tra tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh mà chỉ cần chọn mẫu để kiểm tra dựa vào sự hiểu biết về hệ thống KSNB mà doanh nghiệp được kiểm toán đã thiết lập, vận hành và tập hợp thông tin để lập báo cáo tài chính. Vì vậy, KSNB lúc bấy giờ được hiểu rất đơn giản như là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động.
Năm 1936, công bố của Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA- American Institute of Certified Public Accountants) đã định nghĩa về KSNB là: “.các biện pháp và thách thức được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và tài sản, cũng như kiểm tra việc ghi chép chính xác số liệu”. Thời điểm này, việc nghiên cứu và đánh giá hệ thống KSNB ngày càng được chú trọng. Chức năng của hệ thống kiểm soát nội bộ Năm 1949, một báo cáo đặc biệt của AICPA, định nghĩa KSNB là: “.cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của người quản lý”. e 9 Sau đó, AICPA đã soạn thảo và ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của KSNB như: - Năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP - Committee on Auditing Procedure) trực thuộc AICPA ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán 29 (SAP - Statement on Auditing Procedure) về: “Phạm vi xem xét KSNB của kiểm toán viên độc lập” - Năm 1962, CAP tiếp tục ban hành SAP 33 làm rõ hơn về KSNB - Năm 1972, CAP tiếp tục ban hành SAP 54 “Tìm hiểu và đánh giá KSNB” Như vậy trong suốt thời kỳ trên, khái niệm KSNB đã không ngừng mở rộng ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán.
Tuy nhiên, trước khi báo cáo COSO (Committee of Sponsoring Organizations) 1992 ra đời, KSNB vẫn mới dừng lại như là một phương tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính. Trách nhiệm của các đối tượng liên quan đến KSNB trong ngân hàng AICPA đã soạn thảo và ban hành nhiều chuẩn mực đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của KSNB trong hơn 40 năm sau đó như: - SAP 29 (1958) “Phạm vi kiểm toán viên độc lập xem xét KSNB”, trong đó lần đầu tiên đề cập phân biệt KSNB về quản lý và KSNB về kế toán. - SAP 54 (1972) “Tìm hiểu về đánh giá KSNB”, đã đưa ra 4 mục tiêu của kiểm soát kế toán. - SAS 55 (1988) “Xem xét KSNB trong kiểm toán báo cáo tài chính”, đã đưa ba yếu tố của KSNB là môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm toán.
Vào thập niên 1970 – 1980, nền kinh tế Hoa Kỳ phát triển mạnh mẽ kéo theo các vụ gian lận ngày càng tăng về số lượng lẫn quy mô, gây ra những tổn thất đáng kể cho nền kinh tế. Năm 1977, sau vụ bê bối Watergate, quốc hội Hoa Kỳ đã ban hành Luật chống hối lộ ở nước ngoài. Điều luật này nhằm nhấn mạnh đến vai trò của KSNB trong việc ngăn ngừa những khoản thanh toán bất hợp pháp và dẫn đến nhu cầu ghi chép đầy đủ trong mọi hoạt động của đơn vị kế toán. e 10 Năm 1985, với sự sụp đổ của các công ty cổ phần có niêm yết làm cho các nhà ban hành luật càng quan tâm đến hoạt động KSNB của công ty.
Nhiều quy định hướng dẫn về KSNB của các cơ quan chức năng Hoa Kỳ được ban hành trong giai đoạn này như: Ủy ban chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ năm 1988, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ năm 1998, Tổ chức nghiên cứu kiểm toán nội bộ năm 1991. Trước tình hình này, năm 1985, Ủy Ban COSO đã được thành lập. Đây là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính (thường gọi tắt là Ủy ban Treedway). Ủy ban này được sự bảo trợ của 5 tổ chức: Hiệp hội kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA), Hội kế toán Mỹ (American Accounting Association), Hiệp hội quản trị viên tài chính (The Financial Executives Institute - FEI), Hiệp hội kế toán viên quản trị (Institute of Management Accountants - IMA), Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (The Institute of Internal Auditors - IIA).
Trước tiên, COSO đã sử dụng chính thức từ KSNB thay vì từ KSNB về kế toán. Đến năm 1992, Ủy ban COSO đã chính thức ban hành Báo cáo 1992. Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống. Trong báo cáo này nêu rõ KSNB không chỉ dừng lại ở vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra phương diện hoạt động của doanh nghiệp và tuân thủ các chính sách.
Hệ Thống KSNB Trong NHTM Báo cáo COSO ra đời nhằm đưa ra một định nghĩa, một cách hiểu được chấp nhận rộng rãi về KSNB và cũng hỗ trợ cho các nhà quản trị kiểm soát công ty một cách tốt hơn. Báo cáo COSO 1992 chưa thực sự hoàn chỉnh nhưng đã tạo lập được một cơ sở lý thuyết rất cơ bản và được xem là nền tảng về KSNB. Sau đó, hàng loạt các nghiên cứu phát triển về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời như phát triển về Quản trị rủi ro (ERM - chú dẫn tiếng anh về công ty nhỏ vào năm 2004 hay phát triển theo hướng công nghệ thông tin (CoBIT- Control Objectives for Information and Related Technology), theo hướng kiểm toán độc lập, chuyên sâu về những ngành nghề cụ thể và giám sát vào năm 2008, cụ thể: e 11 Phát triển về phía quản trị; Phát triển cho doanh nghiệp nhỏ; Phát triển theo hướng công nghệ thông tin; Phát triển theo hướng kiểm toán độc lập; Phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ; Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể và Hướng dẫn về giám sát hệ thống kiểm soát nội bộ. Trong đó phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể: đã định nghĩa: “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi HĐQT, các nhà quản lý cao cấp và nhân viên.
Nó không chỉ là thủ tục hay chính sách được thực hiện tại một thời điểm cụ thể mà là một hoạt động liên tục ở mọi cấp trong ngân hàng. HĐQT và các nhà quản lý cao cấp có trách nhiệm thiết lập một nền văn hóa thích hợp để trợ giúp cho quá trình KSNB cũng như liên tục giám sát sự hữu hiệu của nó, tuy nhiên mỗi cá nhân trong tổ chức phải tham gia quá trình này. Các mục tiêu chính của KSNB được phân loại như sau: - Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động. - Sự tin cậy, đầy đủ và kịp thời của thông tin tài chính và quản trị.
- Sự tuân thủ pháp luật và các quy định liên quan. Theo công bố này KSNB bao gồm các bộ phận sau: - Sự giám sát của nhà quản lý và văn hóa kiểm soát. - Ghi nhận và đánh giá rủi ro. - Các hoạt động kiểm soát và phân chia trách nhiệm.
- Thông tin và truyền thông. - Giám sát và điều chỉnh sai sót. Theo quyết định số 13/2018/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, một bộ phận KSNB hoạt động có hiệu quả phải đáp ứng những yêu cầu sau - Cơ chế phân cấp ủy quyền rõ ràng, minh bạch; đảm bảo tách bạch nhiệm vụ, quyền hạn của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức tín dụng; - Cơ chế kiểm tra chéo giữa các cá nhân, các bộ phận cùng tham gia một quy trình nghiệp vụ; - Quy định về hạn mức rủi ro cụ thể đối với từng cá nhân, bộ phận trong việc thực hiện các giao dịch; e 12 - Quy trình và cơ chế thẩm định, kiểm tra, chấp thuận và duyệt cho phép thực hiện các giao dịch; đảm bảo một quy trình nghiệp vụ phải có ít nhất 2 cán bộ tham gia, không có cá nhân nào có thể một mình tiến hành thực hiện và quyết định một quy trình nghiệp vụ, một giao dịch cụ thể, ngoại trừ những giao dịch trong hạn mức được tổ chức tín dụng cho phép phù hợp với quy định của pháp luật. Để đảm bảo cho hệ thống KSNB hoạt động có hiệu quả tránh sự qua loa hình thức, NHNN Việt Nam đã có những quy định cụ thể ràng buộc trách nhiệm của HĐQT, Ban kiểm soát và Tổng Giám đốc các ngân hàng phải thiết lập và duy trì hệ thống kiểm tra, KSNB hợp lý và hiệu quả.
Hệ thống KSNB hữu hiệu cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được mục tiêu của một đơn vị để làm được điều đó thì năm thành phần phải có mặt và hoạt động cùng với nhau sao cho thỏa mãn các tiêu chí sau: tổ chức môi trường kiểm soát khoa học kết hợp với đánh giá rủi ro phù hợp, tổ chức tốt hệ thống thông tin và truyền thông, hoạt động kiểm soát hiệu quả và giám sát kiểm soát đủ mạnh Để đánh giá KSNB là hữu hiệu, ngoài 3 mục tiêu trên cần đánh giá thêm 5 bộ phận cấu thành và 17 nguyên tắc của hệ thống KSNB xem có hiện hữu hay không; vì nếu các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB và các nguyên tắc được thực thi có hiệu quả đồng nghĩa là hệ thống kiểm soát này đã hoàn thành được các mục tiêu, mục đích đặt ra với kết quả tốt. Hay nói cách khác, hệ thống KSNB đạt được mục tiêu mục đích đặt ra thì được coi là hữu hiệu; còn khi thực hiên tốt mục tiêu, mục đích đó thì là có tính hiệu quả. Kiểm Soát nội bộ theo Basel 1. Định nghĩa Kiểm soát nội bộ theo Basel Năm 1974, tại TP.