CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC 1.1 TÍN DỤNG ĐTPT CỦA NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1998 của Trung tâm Từ điển học, chữ “tín” có nghĩa là đức tin của con người, biết trọng lời hứa và biết tin nhau. "Tín dụng" có nghĩa là sự vay mượn tiền mặt và vật tư hàng hóa. “Vay mượn” là việc nhận tiền hay vật của người khác để sử dụng với điều kiện sẽ trả lại bằng cái cùng loại ít nhất có số lượng hoặc giá trị tương đương.
Trong trường hợp vay với điều kiện khi trả phải thêm một khoản theo tỷ lệ phần trăm thì gọi là lãi vay. Tỷ lệ phần trăm đó được gọi là lãi. Có thể hiểu Tín dụng là quan hệ vay trả, là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc sử dụng số tiền vay hoặc quyền được sử dụng tài sản (hàng hoá) trong một khoản thời gian nhất định mà người sử dụng phải trả cho người cho vay. Định nghĩa được chấp nhận rộng rãi nhất về tín dụng là: Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền cam kết hoàn trả cả gốc và lãi theo các điều kiện đã thoả thụân trong hợp đồng.
Phân loại tín dụng Căn cứ vào các chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng, ta có các loại tín dụng như: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng hợp tác, tín dụng quốc tế. Luan van 11 - Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa. Đây là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất - kinh doanh được thực hiện dưới hình thức mua, bán chịu hàng hóa. Hành vi mua bán chịu hàng hóa được xem là hình thức tín dụng - người bán chuyển giao cho người mua quyền sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhất định và khi đến thời hạn đã được thỏa thuận, người mua phải hoàn lại vốn cho người bán dưới hình thức tiền tệ và cả phần lãi cho người bán chịu.
- Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các đối tác kinh tế - tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước. - Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội và các cá nhân. Tín dụng nhà nước xuất hiện nhằm thỏa mãn những nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước trong điều kiện nguồn thu không đủ để đáp ứng; nó còn là công cụ để nhà nước hỗ trợ cho các ngành kinh tế yếu kém, ngành mũi nhọn và khu vực kinh tế kém phát triển, và là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý, điều hành vĩ mô. - Tín dụng quốc tế là mối quan hệ giữa các nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước với nhau, hoặc với ngân hàng quốc tế và các tổ chức quốc tế, các cá nhân người nước ngoài và giữa các doanh nghiệp của các nước với nhau.
Vai trò của tín dụng Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất liên tục đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế Đối với người đi vay, nhờ có nguồn vốn tín dụng mà họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn kinh doanh một cách thuận lợi, chắc chắn và hợp pháp, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục. Giải quyết kịp thời vấn đề thừa thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra ở các doanh nghiệp. Nhờ hoạt động tín dụng mà nguồn vốn trong toàn bộ nền kinh tế được điều hòa, ổn định kinh Luan van 12 tế vĩ mô. Ngoài ra tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là phương tiện đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển.
Thông qua hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp đã sử dụng nguồn lao động và nguyên liệu hợp lý hơn, Từ đó, góp phần thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, giải quyết được nhiều vấn đề xã hội. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức. Đây không phải là nguồn vốn cấp phát nên doanh nghiệp phải cân nhắc và tính toán để sử dụng vốn có hiệu quả. Bằng các tác động như vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp.
Tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài Trong điều kiện ngày nay, phát triển kinh tế của một quốc gia gắn liền với kinh tế thế giới, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau. Đối với các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hoá. Đồng thời, các quốc gia nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để công nghiệp hoá và hiện đại hoá kinh tế trong nước. Tín dụng đầu tư phát triển (ĐTPT) của Nhà nước a.
Khái niệm Tín dụng ĐTPT của Nhà nước: Là sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các hình thức tín dụng (cho vay, bảo lãnh, hỗ trợ sau đầu tư) để tài trợ đầu tư Luan van 13 các dự án phát triển thuộc các ngành, lĩnh vực then chốt, trọng điểm được Nhà nước khuyến khích, ưu tiên đầu tư theo mục tiêu chính sách chiến lược của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định với những ưu đãi về thời hạn, về lãi suất, về điều kiện hỗ trợ, về mức hỗ trợ đầu tư. Đối tượng của tín dụng ĐTPT là các dự án nói trên, có khả năng tạo ra nguồn thu và hoàn trả vốn trực tiếp. Mục đích của tín dụng ĐTPT của Nhà nước là kênh hỗ trợ vốn cho các dự án ĐTPT thuộc một số ngành quan trọng, chương trình kinh tế lớn, các vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn cần khuyến khích đầu tư của các tổ chức kinh tế, để tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội bền vững. Tín dụng ĐTPT còn có vai trò tích cực trong việc kích thích đầu tư của các tổ chức kinh tế khác, góp phần tạo ra tốc độ phát triển kinh tế cao hơn.
Nguồn vốn ĐTPT có thể từ một trong các nguồn vốn sau: Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn ngoài nước; b. Đặc điểm của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Tín dụng ĐTPT của Nhà nước do Nhà nước quản lý, cho vay theo chủ trương của Nhà nước, vì lợi ích của Nhà nước và được hưởng nhiều ưu đãi. Do vậy tín dụng ĐTPT của Nhà nước có những đặc điểm nổi bật như sau: - Tín dụng ĐTPT của Nhà nước do Nhà nước quản lý; - Tín dụng ĐTPT tài trợ theo mục tiêu chính sách chiến lược của Nhà nước; - Được hưởng chế độ ưu đãi về lãi suất; - Quy mô vốn lớn, thời hạn cho vay dài; - Chứa đựng nhiều rủi ro; - Dự án đầu tư có khả năng tạo nguồn thu và hoàn trả vốn trực tiếp. Luan van 14 - Phạm vi của tín dụng ĐTPT hẹp, hạn chế: + Hạn chế về Danh mục các dự án vay vốn tín dụng đầu tư ở một số lĩnh vực, ngành nghề về Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội; Nông nghiệp nông thôn; Công nghiệp; Các dự án cho vay theo Hiệp định Chính Phủ; Các dự án đầu tư ra nước ngoài theo Quyết định của Thủ tướng Chính Phủ; Các dự án cho vay theo Chương trình mục tiêu sử dụng vốn nước ngoài.
+ Hạn chế về địa bàn – nơi thực hiện dự án vay vốn tín dụng đầu tư. Dự án đầu tư phát triển thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; Dự án tại vùng đồng bào dân tộc Khơ me sinh sống tập trung, các xã thuộc chương trình 135 và các xã biên giới thuộc chương trình 120, các xã vùng bãi ngang (không bao gồm dự án thuỷ điện, nhiệt điện, sản xuất xi măng, sắt thép; dự án đầu tư đường bộ, cầu đường bộ, đường sắt và cầu đường sắt;) Như vậy, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước vừa có nội dung kinh tế vừa có nội dung xã hội và chính trị. Sự kết hợp hài hoà lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước là bản chất của tín dụng đầu tư phát triển, và cũng là mục tiêu hoạt động, tiêu chuẩn đánh giá hoạt động của tổ chức quản lý tín dụng đầu tư của Nhà nước. Vai trò của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Một là, Tín dụng ĐTPT của Nhà nước góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH, đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế.
Đây là quá trình xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho nền kinh tế mà trong đó chủ yếu là xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, quan trọng, đưa công nghiệp trở thành ngành giữ vai trò chủ đạo và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế. Nhà nước thông qua kênh TDĐT của Nhà nước tài trợ cho các dự án Luan van 15 ĐTPT nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội và phát triển ngành công nghiệp then chốt, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH và nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó góp phần đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế. Hai là, TDĐT của Nhà nước là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế và hướng dẫn hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế.