Chương 1: Lý luận cơ bản về tín dụng đầu tư tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đầu tư tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Kon Tum. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tư tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Kon Tum. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu liên quan đến lĩnh vực tín dụng nhà nƣớc, tín dụng đầu tƣ cho thấy đã đƣợc nhiều ngƣời quan tâm chọn làm đề tài nghiên cứu.
Tuy nhiên vấn đề hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tƣ gần nhƣ ít đƣợc quan tâm và cách tiếp cận cũng ở mức độ, phạm vi khác nhau. Có thể thống kê một số đề tài đã nghiên cứu về TDĐT nhƣ sau: Luận án Tiến sĩ “Tín dụng Nhà nƣớc đối với phát triển kinh tế các tỉnh Tây Nguyên” của tác giả Vũ Mạnh Bảo (năm 2011). Luận án này có đối tƣợng nghiên cứu là vai trò của tín dụng Nhà nƣớc đối với sự phát triển kinh tế các tỉnh Tây Nguyên; lấy phạm vi nghiên cứu là trong giai đoạn 2006 - 2011 thuộc NHPT Việt Nam và các Chi nhánh NHPT trên địa bàn Tây Nguyên. Vì vậy, các vấn đề lý luận, giải pháp, đề xuất trình bày trong luận án mang tầm vĩ mô chung của tín dụng nhà nƣớc cho sự phát triển của khu vực Tây Nguyên.
Luan van 4 Luận án Tiến sĩ "Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tƣ phát triển của Nhà nƣớc" của tác giả Trần Công Hòa (năm 2006). Luận án này có đối tƣợng nghiên cứu chuyên sâu vào hiệu quả tín dụng ĐTPT Nhà nƣớc về mặt tài chính, kinh tế và xã hội; lấy phạm vi nghiên cứu trong giai đoạn 2000 - 2006 thuộc Quỹ Hỗ trợ Phát triển. Tác giả tập trung vào nghiên cứu một số nội dung, chỉ tiêu nhằm nâng cao hiệu quả vốn TDĐT của Nhà nƣớc. Vì vậy các vấn đề, giải pháp, đề xuất trình bày trong Luận án đều tập trung ở tầm vĩ mô, phục vụ cho việc xây dựng thể chế, cơ chế chính sách và hành lang pháp lý hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ "Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng Nhà nƣớc qua Quỹ Hỗ trợ Phát triển" của tác giả Trần Thị Mỹ Hạnh (năm 2003); Luận văn thạc sĩ “Giải pháp đẩy mạnh hoạt động tín dụng đầu tƣ phát triển tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Vĩnh Long” của tác giả Võ Thanh Phong (năm 2009); Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tƣ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam" của tác giả Phạm Văn Lai (năm 2009);. Các Luận văn, công trình này đều có phạm vi nghiên cứu cho cả hệ thống NHPT Việt Nam hoặc địa phƣơng khác, hoặc trƣớc thời kỳ Việt Nam gia nhập WTO; chƣa có tính thực tiễn để áp dụng cho những địa phƣơng có đặc điểm kinh tế-xã hội nhƣ Tây nguyên; chƣa đề cập, hệ thống hoá lý luận TDĐT cho những ai mới tiếp cận về TDĐT dễ hình dung hoặc coi hoạt động TDĐT chỉ là hoạt động cho vay đầu tƣ. Đối với các đề tài khoa học cấp ngành, thời gian qua cũng có một số đơn vị thuộc và trực thuộc NHPT Việt Nam tổ chức nghiên cứu các đề tài về TDĐT nhƣ: “Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tín dụng đầu tƣ tại Chi nhánh Hà Tĩnh” của Chi nhánh NHPT Hà Tĩnh, (năm 2010); “Nghiên cứu vận dụng kinh nghiệm của nƣớc ngoài để bổ sung hoàn thiện tiêu chuẩn thẩm định dự án đầu tƣ của NHPT Việt Nam trong điều kiện nguồn vốn có giới hạn” của Luan van 5 Chi nhánh NHPT Phú Yên, (năm 2011), “Hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án đầu tƣ đề nghị cấp tín dụng của NHPT Việt Nam” của Chi nhánh NHPT Hà Nam”… Đây là những đề tài có phạm vi nghiên cứu một vấn đề, một lĩnh vực cụ thể ở những địa phƣơng khác. Những đề tài khoa học của ngành trong thời gian qua chƣa có nghiên cứu chung những vấn đề thuộc về lý luận TDĐT, mà tập trung giải quyết những vƣớng mắc phát sinh trong quá trình thực tế tác nghiệp tại đơn vị, địa phƣơng, một lĩnh vực nghiệp vụ cụ thể.
Nhƣ vậy, chƣa có một đề tài đi vào nghiên cứu cụ thể để hệ thống về lý luận tín dụng đầu tƣ phù hợp với ứng dụng thực tiễn tại Chi nhánh NHPT Kon Tum. Vì vậy, đề tài nghiên cứu để hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tƣ tại Chi nhánh NHPT Kon Tum mà tác giả chọn là đề tài hoàn toàn mới, không trùng với các đề tài nghiên cứu trƣớc đây và mang tính cấp thiết. Trong đề tài này, tác giả đã hệ thống hóa lại những lý luận cơ bản về hoạt động tín dụng đầu tƣ một cách dễ tiếp cận. Từ đó, xây dựng cơ sở lý thuyết về hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tƣ, kết hợp với kinh nghiệm của một số quốc gia khác để tổ chức triển khai một cách có hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tƣ tại Chi nhánh.
Bằng cách tiếp cận thực tế từ Chi nhánh trong việc triển khai hoạt động tín dụng đầu tƣ trong giai đoạn dài từ năm 2006 - 2011; định hƣớng phát triển của Chi nhánh Kon Tum đến năm 2015; định hƣớng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Kon Tum, đề tài đã đề xuất một số giải pháp phù hợp với đặc điểm Chi nhánh, môi trƣờng kinh tế xã hội trên địa bàn, góp phần hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tƣ bền vững. Luan van 6 CHƢƠNG 1 - LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƢ TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƢ 1. Đầu tƣ phát triển và nguồn vốn cho đầu tƣ * Đầu tư phát triển Đầu tƣ phát triển là quá trình thực hiện sự chuyển hóa vốn bằng tiền thành vốn sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực cho sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác.
Đầu tƣ phát triển là nhân tố quyết định phát triển kinh tế - xã hội, là chìa khóa để tăng trƣởng kinh tế và điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo định hƣớng phát triển của Nhà nƣớc. Đầu tƣ phát triển có những đặc điểm khác so với các hình thức đầu tƣ khác nhƣ đầu tƣ tài chính, đầu tƣ thƣơng mại. thể hiện ở những điểm sau: - Do mục tiêu chủ yếu là đầu tƣ vào TSCĐ, gồm: xây dựng, sửa chữa các công trình nhà cửa, các kết cấu hạ tầng, trang thiết bị. nên đòi hỏi một lƣợng vốn rất lớn.
- Thời gian để tiến hành một dự án đầu tƣ cho đến khi các thành quả của nó phát huy tác dụng thƣờng rất dài với nhiều biến động xảy ra. Cũng do đó, hoạt động ĐTPT không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố không ổn định về tự nhiên (địa lý, địa chất, môi trƣờng khí hậu. ), xã hội, chính trị, kinh tế. Vì vậy, hoạt động đầu tƣ thƣờng có độ rủi ro cao.
- Các thành quả của hoạt động ĐTPT có giá trị sử dụng lâu dài nhiều năm và gắn liền với không gian tạo ra nó. Nên để đảm bảo cho việc đầu tƣ đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị. Trong công tác qui hoạch, thẩm định hiệu quả phải đƣợc tổ chức thực hiện Luan van 7 một cách chu đáo, bài bản dƣới hình thức các dự án đầu tƣ, đây cũng là đặc điểm khác biệt so với các loại hình đầu tƣ khác. * Nguồn vốn cho dự án đầu tư Vốn cho ĐTPT là nguồn lực tài chính để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác.
Vấn đề hết sức quan trọng là phải giải quyết đƣợc nhu cầu về vốn đầu tƣ và các định chế về sử dụng vốn có hiệu quả. Nguồn vốn đầu tƣ có thể đƣợc chia thành nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc và nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cƣ, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm của chính phủ. Nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy của các cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nƣớc ngoài có thể huy động vào quá trình ĐTPT của nƣớc sở tại.
Nguồn vốn cho ĐTPT đƣợc huy động từ các nguồn sau: - Nguồn vốn NSNN: Là nguồn chi từ NSNN dành cho ĐTPT. - Nguồn vốn tự có: Vốn chủ sở hữu của chủ đầu tƣ. - Nguồn vốn tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc: Là nguồn vốn đƣợc huy động nhằm tài trợ theo các hình thức tín dụng cho các dự án phát triển thuộc các chƣơng trình, các lĩnh vực, các dự án theo mục tiêu phát triển KT-XH của Chính phủ. Tổ chức thực hiện tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc thƣờng do Chính phủ thành lập.
- Nguồn vốn từ khu vực tƣ nhân: Các nguồn vốn huy động từ khu vực tƣ nhân thông qua các hoạt động vay vốn, liên kết. - Nguồn vốn tín dụng từ các NHTM. - Huy động từ thị trƣờng vốn thông qua phát hành chứng khoán. Luan van 8 - Nguồn vốn ODA và vay nƣớc ngoài.
Nguồn vốn là yếu tố thiết yếu cho ĐTPT, bởi vậy, các chủ đầu tƣ luôn tìm kiếm, huy động tối đa các nguồn vốn với chi phí thấp nhất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trƣờng, việc hỗ trợ trực tiếp từ NSNN cho ĐTPT không phải lúc nào cũng thực hiện đƣợc. Vì thế các chủ đầu tƣ tìm đến các nguồn vốn vay khác nhau, trong đó có nguồn vốn tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc. Các nội dung cụ thể về nguồn vốn này sẽ đƣợc trình bày ở phần dƣới đây.
Khái niệm tín dụng đầu tƣ Tín dụng nói chung là một phạm trù kinh tế đƣợc rất nhiều nhà kinh tế đề cập đến, do đó, có nhiều cách hiểu và nhiều định nghĩa về tín dụng. Tuy nhiên, thông dụng nhất, tín dụng có thể đƣợc hiểu nhƣ là một giao dịch giữa hai bên trong đó một bên (trái chủ hoặc ngƣời cho vay) chu cấp tiền, hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng khoán dựa vào lời hứa thanh toán lại của bên kia (thụ trái hoặc ngƣời đi vay) trong tƣơng lai. Thông thƣờng, những giao dịch nhƣ vậy còn bao gồm cả việc thanh toán lợi tức cho ngƣời cho vay [10].