CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 1. Các công trình đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn. Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực tế và tra cứu tại các thư viện, các website, tạp chí và các nguồn thông tin khác cho thấy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở Việt Nam đề cập tới việc phân tích chất lượng và hoàn thiện hoạt động tín dụng của các ngân hàng, mỗi công trình các tác giả đều nghiên cứu với những cách tiếp cận ở mức độ và phạm vi khác nhau có những đóng góp mới về mặt thực tiễn và đưa ra được những đề xuất hết sức quan trọng cho các ngân hàng cũng như cho các nhà quản lý. Cụ thể một số công trình nghiên cứu có chủ đề tương tự với đề tài luận văn: (1)Trần Công Hòa (2007), Luận án Tiến sỹ kinh tế (bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân), “ Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước”.
Luận án đã tập trung vào phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước tại Việt Nam, nguồn vốn trong nước giai đoạn 2000- 2006, lấy Quỹ hỗ trợ phát triển (được tổ chức lại thành Ngân hàng Phát triển Việt Nam từ 01/07/2006 làm trọng tâm). Từ đó, đề xuất các giải pháp để nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. (2) Đặng Hà Giang (2009), Luận án tiến sỹ (bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân), “Hoàn thiện hoạt động tín dụng của các NHTM nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn miền Đông Nam Bộ theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa ”. Luận án đã nghiên cứu những lý luận cơ bản về tín dụng NHTM và vai trò của hoạt động tín dụng đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế; những ảnh hưởng của hoạt động tín dụng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ đó đưa ra các quan điểm, 5 giải pháp hoàn thiện hoạt động tín dụng của các NHTM nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn miền Đông Nam Bộ.
(3) Vũ Duy Thành (2013), Luận văn thạc sỹ (bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân), “Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng đầu tư phát triển tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Sơn La”. Luận văn đã tập trung đánh giá một số chỉ tiêu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng đầu tư phát triển tại Chi nhánh NHPT Sơn La giai đoạn 2010-2012. Kết quả mong muốn là góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế trên địa bàn của tỉnh Sơn La theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; góp phần giải quyết công ăn việc làm, giảm khoảng cách về sự phát triển giữa thành thị và nông thôn. (4) Nguyễn Trung Kiên (2009), Luận văn thạc sỹ (bảo vệ tại Học viện Ngân hàng), "Nâng cao chất lượng cho vay tín dụng tại Chi nhánh NHPT Hải Dương".
Đề tài đề cập đến việc nâng cao chất lượng cho vay tín dụng và đã đưa ra các cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp để nâng cao chất lượng cho vay tín dụng. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng là hoạt động cho vay tín dụng tại Chi nhánh NHPT Hải Dương. Tác giả đã tập trung phân tích vào công tác cho vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước và thực trạng, từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị để nâng cao chất lượng cho vay tín dụng của Chi nhánh NHPT Hải Dương. (5) Trần Trọng Hiếu (2008), Luận văn thạc sỹ (bảo vệ tại Đại học Kinh tế thành phố HCM), “Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đầu tư của nhà nước tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Long An”.
Luận văn đã nêu ra những lý luận cơ bản về hoạt động cho vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước, phân tích thực trạng, đánh giá những mặt được, mặt chưa được và đưa ra các giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đầu tư của Nhà nước tại Chi nhánh NHPT Long An. (6) Đinh Thị Thu Hiền (2013), Đề tài nghiên nghiên cứu khoa học cấp cơ sở (bảo vệ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam), “Nâng cao chất lượng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam”. 6 Trong đề tài, tác giả đã tổng hợp và phân tích các chỉ tiêu, phương pháp để đánh giá công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hệ thống NHPT và đưa ra các giải pháp, đề xuất bổ sung một số phương pháp khác nhằm nâng cao chất lượng trong công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Chi nhánh. (7) Nguyễn Thị Thu Hằng (2011), Tạp chí Hỗ trợ Phát triển số 57, tháng 04/2011.
“ Đẩy mạnh hoạt động Tín dụng Đầu tư tại Sở Giao dịch II - Ngân hàng Phát triển Việt Nam ”. Trong bài viết, tác giá đã nêu ra và phân tích các mặt hoạt động của Sở Giao dịch II - NHPT để đẩy mạnh hoạt động tín dụng đầu tư. Tuy nhiên, để hướng tới mục tiêu trở thành một Ngân hàng chuyên nghiệp tác giả đề xuất những giải pháp chính như: Đẩy mạnh công tác huy động vốn; Đổi mới và hoàn thiện cơ chế chính sách tín dụng đầu tư; Điều chỉnh lãi suất theo hướng linh hoạt và xem xét cho vay vốn lưu động; NHPT cần tạo tính chủ động cho các sở giao dịch và chi nhánh hơn nữa. (8) Trần Công Hoà (2012), Tạp chí Hỗ trợ phát triển, số 68, tháng 3/2012.
“ Sự khác biệt trong hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam ”. Trong bài viết, tác giả đã nhận xét, đánh giá một cách tổng quát về hoạt động của NHPT tại thời điểm hiện tại và đưa ra những sự khác biệt trong công tác hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước tại NHPT so với các tổ chức tín dụng khác, nhất là trong bối cảnh cả nền kinh tế đang thực hiện quá trình tái cơ cấu, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là mũi trọng tâm như: sự khác biệt về mục tiêu và đối tượng hoạt động của NHPT; khác biệt trong thẩm định và đánh giá dự án vay vốn TDĐT; khác biệt về quản trị rủi ro tín dụng và sự khác biệt về xu hướng tương lại của nguồn vốn TDĐT của Nhà nước. Tóm lại từ các công trình khoa học đã nghiên cứu và các công trình đã tổng quan có thể khẳng định chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đến vấn đề hoạt động tín dụng đầu tư phát triển tại Chi nhánh NHPT Hà Giang. Hướng nghiên cứu của đề tài luận văn.
Trên cơ sở các đề tài đã nghiên cứu, cùng với thực tiễn hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước tại Chi nhánh NHPT Hà Giang, tác giả đã thực hiện đề tài luận văn nhằm giải quyết các vấn đề sau: - Thứ nhất: Hệ thống hóa một số nội dung cơ bản liên quan đến hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Mặt khác qua tham khảo các tài liệu, các chuyên đề học tập trong chương trình đào tạo thạc sỹ và các sách giáo khoa, tác giả hình thành khung lý thuyết cho đề tài luận văn. - Thứ hai: Vận dụng khung lý thuyết đã hình thành, tác giả đã tập trung phân tích thực trạng hoạt động tín dụng đầu tư phát triển tại Chi nhánh NHPT Hà Giang trong 5 năm (giai đoạn 2009-2013), từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá về những kết quả đạt được và những hạn chế, nguyên nhân chưa hoàn thiện trong hoạt động tín dụng đầu tư phát triển tại Chi nhánh NHPT Hà Giang trong 5 năm vừa qua. - Thứ ba: Từ cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước tại Chi nhánh NHPT Hà Giang để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Chi nhánh, bao gồm: i) Về tổ chức bộ máy và chất lượng nguồn nhân lực của Chi nhánh.
ii) Nhóm các giải pháp chất lượng hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. iii) Về quản lý, sử dụng và điều hành nguồn vốn. iv) Tăng cường công tác thu nợ. v) Nhóm các giải pháp khác.
Một lần nữa có thể khẳng định cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu trùng đề tài tại Chi nhánh NHPT Hà Giang, vì vậy các kết quả nghiên cứu là độc lập không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố, số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng. 8 CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. Khái niệm về đầu tư phát triển.
Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư chúng ta có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư. Theo nghĩa rộng, đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy, mục đích của việc đầu tư là thu được cái gì đó lớn hơn những gì mình đã bỏ ra. Do vậy nền kinh tế không xem những hoạt động như gửi tiết kiệm là hoạt động đầu tư vì nó không làm gia tăng của cải cho nền kinh tế mặc dù người gửi vẫn có khoản thu lớn hơn so với số tiền gửi.
Từ đó, người ta biết đến một khái niệm hẹp hơn về đầu tư phát triển. Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền, bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế - xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống của thành viên trong xã hội.