CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở pháp lý của Ngân hàng thương mại về hoạt động huy động vốn 1. Cơ sở pháp lý của ngân hàng thương mại về hoạt động huy động vốn Hoạt động huy động vốn của hệ thống NHTM luôn tuân thủ và bám sát hệ thống các văn bản pháp luật do Quốc hội, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành, bao gồm: - Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 16/06/2010 - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng số 20/2016/QH14, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017. - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng số 14/2018/QH14, có hiệu lực từ ngày 15 tháng 01 năm 2019.
- Nghị định số 52/2006/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 19/5/2006 liên quan đến việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp. - Quyết định 1284/2002/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ban hành ngày 21/11/2002 về quy định quy chế mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín dụng. - Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN, ban hành ngày 13/09/2004, về quy định "Quy chế về tiền gửi tiết kiệm". - Quyết định số 47/2006/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN, ban hành ngày 25/09/2006 sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế về tiền gửi tiết kiệm.
- Thông tư số 15/2009/TT-NHNN của Thống đốc NHNN, ban hành ngày 10/8/2009, quy định tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn. - Thông tư số 13/2010/TT-NHNN của Thống đốc NHNN, ban hành 5 ngày 20/05/2010, quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động tổ chức tín dụng. Những quy định của Agribank trong hoạt động huy động vốn Song song với việc áp dụng hệ thống các văn bản luật chung, Agribank cũng ban hành một số văn bản chính sách về huy động và quản lý vốn huy động để phù hợp với đặc điểm hoạt động của mình, bao gồm: - Quyết định số 655/QĐ-HĐTV-KHNV của Hội đồng thành viên Agribank, ban hành ngày 15/8/2019, quy định về tiền gửi tiết kiệm trong hệ thống Agribank. - Quyết định số 124/QĐ/HĐQT-KHTH của Hội đồng quản trị Agribank, ban hành ngày 21/02/2008, quy định về việc phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn trong nước.
- Quyết định số 123/QĐ/HĐQT-KHTH của Hội đồng quản trị Agribank, ban hành ngày 21/02/2008, quy định về tiền gửi tiết kiệm trong hệ thống Agribank. - Quyết định số 595/QĐ-NHNNo-TCKT của Ban Tài chính – Kế toán Agribank, được Tổng giám đốc Agribank phê duyệt và ban hành ngày 18/4/2017, quy định về mở và sử dụng tài khoản thanh toán trong hệ thống Agribank. - Quyết định số 479/QĐ-NHNo-TCKT của Tổng Giám đốc Agribank, ban hành ngày 25/3/2019, quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 595/QĐ-NHNo-TCKT đã được ban hành vào ngày 18/4/2017. - Văn bản số 12099/NHNo-TCKT của Ban Tài chính – Kế toán Agribank, được Tổng giám đốc phê duyệt và ban hành ngày 29/12/2017, về hướng dẫn phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng.
- Quyết định số 656/QĐ-HĐTV-KHNV của Hội đồng thành viên Agribank, ban hành ngày 15/8/2019, quy định về tiền gửi có kỳ hạn trong hệ thống Agribank. - Quyết định số 2209/QĐ-NHNo-KHNV của Tổng Giám đốc 6 Agribank, ban hành ngày 18/10/2019, hướng dẫn thực hiện Quy định về TGTK trong hệ thống Agribank. - Quyết định số 2208/QĐ-NHNo-KHNV của Tổng Giám đốc Agribank, ban hành ngày 18/10/2019, hướng dẫn thực hiện Quy định về tiền gửi có kỳ hạn trong hệ thống Agribank. - Quyết định 978/QĐ-NHNo-NCPT của Tổng Giám đốc Agribank, ban hành ngày 18/5/2020, về Quy định về một số sản phẩm TGCKH trong hệ thống Agribank.
- Quyết định số 1063/QĐ-HĐTV-KHNV của Hội đồng thành viên Agribank, ban hành ngày 21/10/2016, sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 494/QĐ-HĐTV-KHNV được Hội đồng thành viên Agribank vào ngày 17/6/2014. - Các văn bản quy định khác liên quan đến công tác huy động vốn của Agribank. Cơ sở lý luận của ngân hàng thương mại về hoạt động huy động vốn 1. Khái niệm về hoạt động huy động vốn của NHTM Nguồn vốn của ngân hàng thương mại bao gồm các giá trị tiền tệ mà ngân hàng tạo lập hoặc huy động được trong quá trình kinh doanh để đầu tư, cho vay và thực hiện các hoạt động tài chính của ngân hàng.
Để đảm bảo kinh doanh hiệu quả, ngân hàng cần liên tục gia tăng nguồn vốn thông qua các nghiệp vụ huy động vốn như huy động tiền gửi từ khách hàng, đi vay, phát hành giấy tờ có giá và các dịch vụ khác như uỷ thác và trung gian thanh toán. Nghiệp vụ huy động vốn là việc NHTM nhận các khoản tiền từ khách hàng trên nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi để hình thành nên nguồn vốn huy động đáp ứng cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng.7] Tuy nhiên, vì tài sản hình thành từ nguồn vốn huy động thuộc về các chủ sở hữu khác nhau nên ngân hàng chỉ có quyền sử dụng chúng cho mục đích kinh doanh, đồng thời, ngân hàng phải đảm bảo hoàn trả tiền gửi cho khách hàng đúng hạn và khi có yêu cầu rút vốn. Đặc điểm của huy động vốn trong các ngân hàng thương mại Đầu tiên, chức năng của NHTM là hoạt động như một trung gian tài chính trên thị trường kinh tế, vay vốn để cung cấp dịch vụ cho vay và các dịch vụ tài chính khác cho khách hàng. Hoạt động huy động vốn là một phần quan trọng và được các NHTM chú trọng đặc biệt.
NHTM hoạt động chuyên nghiệp với khả năng huy động vốn, sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi hiệu quả, hoạt động của NHTM đi từ thị trường tài chính tới các kênh đầu tư khác trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, điểm đặc biệt của NHTM so với các tổ chức kinh tế khác là khả năng sử dụng nhiều biện pháp và công cụ khác nhau để huy động vốn. Chẳng hạn, NHTM có thể huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán, trong đó phải tuân thủ sự kiểm soát và giám sát từ cả Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước (trong khi các tổ chức khác chỉ phải tuân thủ giám sát từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước khi phát hành chứng khoán). Hơn nữa, NHTM cũng có thể gia tăng nguồn vốn thông qua việc vay vốn từ các tổ chức tài chính khác trên thị trường ngân hàng liên ngân hàng (trái lại với hầu hết các tổ chức tài chính không thuộc ngân hàng, ít khi được phép tham gia vào thị trường này).
Thứ ba, NHTM thiết lập một mạng lưới chi nhánh rộng khắp trong nước và ngoài nước để cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng và tăng cường huy động nguồn vốn. Điều này phản ánh mục tiêu kinh doanh của ngân hàng, nhằm cung cấp các sản phẩm tài chính đến tất cả các khách hàng trong nền kinh tế. Mạng lưới giao dịch rộng lớn này giúp NHTM giảm thiểu chi phí huy động nguồn vốn, điều mà các tổ chức khác gặp khó khăn khi phải huy động và xây dựng một mạng lưới chi nhánh toàn quốc vì chi phí này rất lớn. Vai trò của hoạt động huy động vốn * Vai trò đối với nền kinh tế: là một trung gian tài chính.
Là kênh huy động giúp tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, qua đó giúp chúng được phát huy một cách hiệu quả, tháo gỡ khó 8 khăn về vốn của các cá nhân, cũng như các công ty lớn trong và ngoài nước. * Vai trò của huy động vốn đối với khách hàng: đáp ứng cho nhu cầu vốn đầu tư phát triển của các công ty, tổ chức kinh tế. Các công ty và tổ chức kinh tế thường không đủ vốn để thực hiện các dự án đầu tư và bù đắp thiếu hụt vốn khi hoạt động kinh doanh. Do đó, họ phải huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau như phát hành chứng khoán hoặc vay vốn từ các NHTM.
Huy động vốn qua phát hành chứng khoán thường gặp nhiều khó khăn do phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, trong khi việc vay vốn từ NHTM được coi là phương pháp thuận tiện và hiệu quả hơn. * Vai trò của hoạt động huy động vốn trong kiểm soát tiền tệ: NHTW kiểm soát và quản lý hiệu quả các dòng tiền trong nền kinh tế thông qua điều chỉnh lãi suất của nguồn vốn huy động. Ngân hàng Nhà nước để điều hành hiệu quả các dòng tiền trong nền kinh tế phải sử dụng nhiều công cụ khác nhau như chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, điều chỉnh lãi suất của nguồn vốn huy động. Từ đó bảo đảm nền kinh tế hoạt động ổn định, dòng tiền lưu thông theo đúng định hướng chính sách chung.
* Đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM thì huy động vốn góp phần tạo tiền đề giúp hệ thống NHTM kinh doanh hiệu quả và an toàn. Huy động vốn góp phần quan trọng vào hoạt động kinh doanh của NHTM, đánh giá NHTM đó có hoạt động hiệu quả và an toàn hay không. Vốn điều lệ ban đầu của một NHTM thường không đủ để có thể hoạt động. Do đó, họ phải huy động vốn từ các khách hàng và các nguồn khác như phát hành chứng khoán và vay vốn để đảm bảo hoạt động kinh doanh của mình.
Ngoài ra, NHTM cũng có thể đo lường sự tín nhiệm của khách hàng với ngân hàng thông qua nghiệp vụ huy động vốn, qua đó phân tích thực trạng nguyên nhân những thay đổi trong việc sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng và đưa ra biện pháp khắc phục hiệu quả. Các hình thức huy động vốn tại ngân hàng thương mại a/ Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi (nghiệp vụ thị trường 1) Đây là một hình thức huy động vốn truyền thống và rất phổ biến của hệ thống NHTM. Trong tổng nguồn vốn huy động của NHTM thì tiền gửi chiếm một tỷ trọng khá lớn và là nguồn vốn quan trọng nhất, có tính quyết định trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Tiền gửi bao gồm các loại sau: + Tiền gửi không kỳ hạn (Tiền gửi thanh toán): là khoản tiền của cá nhân, tổ chức gửi vào ngân hàng với mục đích giữ tiền hoặc thực hiện các giao dịch thanh toán qua ngân hàng như chuyển khoản, thanh toán hóa đơn… [7;tr.9] + Tiền gửi có kỳ hạn: là khoản tiền gửi của khách hàng gửi tại TCTD trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận giữa khách hàng và TCTD với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho khách hàng.