mở đầu thanh toán không dùng tiền mặt góp phần rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí, an toàn, thuận tiện, chính xác. Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư huy động vốn và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. Cùng với sự phát triển của công nghệ thống tin ngân hàng đã phát triển cá hình thức thanh toán mới bằng điện, thẻ ATM… bên cạnh các hình thức thanh toán truyền thống như ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, L/C, séc…Các dịch vụ thanh toán bao gồm: chuyển tiền, thanh toán xuất khẩu, thanh toán nhập khẩu, Séc, trả lương tự động, thanh toán hóa đơn. Các hoạt động khác - Dịch vụ ngân quỹ: quản lý tiền mặt, tư vấn ngân hàng, tài chính; các dịch vụ quản lý, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn.
- Góp vốn, mua cổ phần: NHTM chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ lưu trữ để góp vốn thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết để thực hiện hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ huy động vốn, huy động vốn tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin huy động vốn. 9 - Tham gia thị trường tiền tệ: NHTM được tham gia đấu thầu tín phiếu kho bạc, mua, bán công cụ chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ. - Nghiệp vụ ủy thác và đại lý: NHTM được quyền ủy thác, nhận ủy thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài sản theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng thương mại - Vốn chủ sở hữu Vốn thuộc sở hữu của NHTM là vốn tự có do ngân hàng tạo lập được thuộc sở hữu riêng của ngân hàng, thông qua góp vốn của chủ sở hữu hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh.
Vốn thuộc sở hữu của ngân hàng bao gồm: Vốn điều lệ: Là mức vốn được hình thành khi ngân hàng được thành lập. Vốn điều lệ luôn lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định. Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có khi thành lập một ngân hàng do pháp luật quy định. Vốn điều lệ được ghi vào điều lệ thành lập ngân hàng.
Các quỹ như: quỹ dự trữ, quỹ dự phòng rủi ro, quỹ khen thưởng phúc lợi, lợi nhuận chưa chia. (Trần Huy Hoàng, 2011) - Vốn huy động Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân hàng. Nó là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội. Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu với nguồn vốn này và phải có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi chủ sở hữu có nhu cầu rút vốn.
Vốn này luôn biến động nên ngân hàng không được sử dụng hết mà phải có dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo năng lực thanh toán. Vốn huy động của NHTM chủ yếu bao gồm: Nhận tiền gửi (vốn tiền gửi): Đây là nguồn vốn mà ngân hàng huy động được từ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân… trong xã hội thông qua quá trình nhận tiền gửi, thanh toán hộ, các khoản cho vay tạo tiền gửi và các nghiệp vụ kinh doanh khác. Bản chất của tài khoản tiền gửi là tài sản thuộc sở hữu của các đối tượng khách hàng khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng nó để cho vay, chiết 10 khấu, thanh toán…đồng thời ngân hàng có trách nhiệm phải hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi hoặc phải thanh toán khi khách hàng có nhu cầu ngay cả khi chưa đến ngày đáo hạn. Tiền gửi chiếm một tỷ trọng khá lớn trong nguồn vốn huy động của các NHTM.
Vốn đi vay: Vay từ các tổ chức huy động vốn khác trên thị trường liên ngân hàng và vốn vay từ Ngân hàng Nhà nước: Tỷ trọng nguồn vốn này thấp hơn so với nguồn tiền gửi. Khác với nhận tiền gửi, ngân hàng không nhất thiết phải đi vay thường xuyên, mà chỉ vay lúc cần thiết và hoàn toàn chủ động quyết định khối lượng vay sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng. Các khoản vay thường có thời hạn ngắn, thông thường chỉ nhằm đảm bảo thanh toán tức thời khi nhu cầu thanh toán của khách hàng tăng cao đột biến. Ngoài ra các NHTM vay NHNN còn phụ thuộc rất lớn vào chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
Phát hành giấy tờ có giá: Bản chất của nghiệp vụ này là ngân hàng chủ động phát hành phiếu nợ như chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu và trái phiếu để huy động vốn nhằm đáp ứng các mục đích nhất định. Ví dụ việc phát hành kỳ phiếu để có tiền cho vay khắc phục hậu quả bão lụt, để cho vay thu mua nông sản, để đầu tư cho một dự án.Trong phát hành giấy tờ có giá thì chứng chỉ tiền gửi là phiếu nợ ngắn hạn với mệnh giá quy định; trái phiếu và kỳ phiếu là loại phiếu nợ trung và dài hạn. Hai loại phiếu nợ này được ngân hàng phát hành từng đợt. Huy động vốn dưới hình thức này các NHTM phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi huy động.
Vì vậy các ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định về khối lượng huy động, mức lãi suất, thời hạn và phương pháp huy động. Vốn này chỉ được huy động trong thời gian nhất định, khi đó huy động đủ khối lượng vốn theo dự kiến các ngân hàng sẽ ngừng việc huy động (bán) kỳ phiếu, trái phiếu. (Trần Huy Hoàng, 2011) - Vốn khác Điều chuyển vốn: Ngày nay hệ thống NHTM được tổ chức theo mô hình tổng công ty và các công ty con gồm ngân hàng mẹ và hệ thống các ngân hàng chi nhánh trực thuộc. Có một phương thức huy động vốn rất hiệu quả hiện nay là điều chuyển vốn điều hoà.
Do tình hình hoạt động của các chi nhánh tại các địa bàn khác nhau là khác nhau (do ảnh hưởng của điều kiện phát triển kinh tế của từng vùng, do 11 phong tục tập quán…) cho nên những chi nhánh ngân hàng mà hoạt động sử dụng vốn vượt quá năng lực huy động vốn thì đầu kỳ lập kế hoạch lên ngân hàng mẹ và xin được nhận một lượng vốn điều hoà cần thiết cho hoạt động của mình. Còn những ngân hàng mà năng lực huy động vốn vượt quá năng lực sử dụng vốn thì đầu kỳ cũng lập kế hoạch sẽ điều chuyển một lượng vốn về ngân hàng mẹ để được hưởng lãi suất điều hoà. Như vậy ngân hàng mẹ chịu trách nhiệm điều chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu của các chi nhánh trong cùng hệ thống. Nguồn vốn ủy thác đầu tư: Một số ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ ngân hàng đại lý.
Khi đó trong nguồn vốn của ngân hàng còn có thêm khoản mục vốn ủy thác đầu tư. Nguồn vốn này được hình thành chủ yếu là do các tổ chức tài chính trong nước hoặc nước ngoài ủy thác cho ngân hàng một khoản tiền để ngân hàng thực hiện cho vay đối với các dự án của mình, cũng có thể là các khoản vay của Chính phủ được ủy thác. Năng lực huy động vốn tiền gửi tại các ngân hàng thương mại 1. Các khái niệm cơ bản a.
Khái niệm nguồn vốn trong các NHTM “Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác ”. Khái niệm huy động vốn Hoạt động huy động vốn có thể hiểu là hoạt động mà ngân hàng thông qua uy tín và các hoạt động kinh doanh của mình tiến hành huy động các nguồn vốn từ các thành phần kinh tế trong xã hội, tạo ra nguồn vốn kinh doanh cho mình, góp phần ổn định lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, …Như vậy, để hoàn thành các mục tiêu kinh doanh của ngân hàng cũng như góp phần thực hiện các chính sách của nhà nước, NHTM phải quan tâm đến công tác huy động vốn. Khái niệm huy động vốn tiền gửi trong các NHTM Tài khoản 13, điều 4, Luật các tổ chức huy động vốn năm 2010, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, huy động vốn tiền gửi hay còn gọi là hoạt động nhận tiền gửi được định nghĩa như sau: “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ 12 chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”. Khái niệm năng lực huy động vốn trong các NHTM Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, ngân hàng cũng như các tổ chức huy động vốn khác đang phải đối mặt với cuộc cạnh tranh khốc liệt.
Bất kì biến động nào dù lớn hay nhỏ đều ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng. Vì vậy, năng lực huy động vốn của ngân hàng không chỉ đánh giá chính xác, đúng đắn hoạt động huy động vốn nói riêng mà còn phản ánh năng lực thích nghi và khẳng định sự phát triển trên thị trường của ngân hàng. Năng lực huy động vốn của ngân hàng được đánh giá là hiệu quả khi tạo được một quy mô, cơ cấu nguồn vốn hợp lý nhằm giảm thiểu chi phí, hạn chế rủi ro trong quản trị huy động vốn và phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn (tài trợ, cho vay, đầu tư, gia tăng vốn chủ sở hữu) của ngân hàng. Năng lực huy động vốn là sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra… Khi so sánh giữa kết quả và chi phí thì cần phải so sánh dưới dạng thương số, hoặc kết quả/chi phí hoặc chi phí/kết quả.
Mỗi cách so sánh đều cung cấp các thông tin có ý nghĩa khác nhau. Như vây, năng lực huy động vốn được thể hiện ở năng lực đáp ứng cao nhất nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Đó chính là sự đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu sử dụng vốn với chi phí hợp lý nhất. Phân loại huy động vốn tiền gửi của ngân hàng thương mại a.