CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỪ XA CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. Khái niệm NHTW Căn cứ vào quy định của các quốc gia trên thế giới thì có khá nhiều khái niệm về NHTW. Sau đây là một số khái niệm tiêu biểu: Theo quy chế của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS): NHTW của một quốc gia là NH được giao trách nhiệm quản lý khối lượng tiền tệ và tín dụng trong quốc gia đó.
Quan điểm của Pháp về NHTW như sau: NHTW là cơ quan phát hành tiền và đầu não của hệ thống NH trong nước và mặc nhiên trở thành thiết chế quản lý ngoại tệ và dự trữ quốc gia cho chính quyền Nhà nước, cung ứng điều tiết tiền tệ, bảo vệ giá trị của nội tệ, quản lý hoạt động NH. Theo Luật NHNN Việt Nam số 46/2010/QH12 ban hành ngày 16/06/2010 thì: NHNN Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là NHTW của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ, hoạt động NH và ngoại hối; thực hiện chức năng của NHTW về phát hành tiền, NH của các TCTD và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về NHTW như sau: NHTW là ngân hàng phát hành tiền của một quốc gia, là cơ quan quản lý và kiểm soát lĩnh vực tiền tệ ngân hàng trong phạm vi toàn quốc. NHTW là bộ máy tài chính tổng hợp, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng đồng thời là ngân hàng của các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác trong nền kinh tế.
9 Trong một quốc gia, hoặc một nhóm các quốc gia chỉ có một ngân hàng trung ương duy nhất, thực hiện việc điều tiết và kiểm soát lĩnh vực tiền tệ – ngân hàng một cách tập trung và thống nhất. Do đó, NHTW có những đặc điểm như sau: (i) Không giao dịch với công chúng, chỉ giao dịch với các tổ chức tín dụng. (ii) Chức năng quản lý của Ngân hàng trung ương khác với sự quản lý của các Bộ. Ngoài quản lý bằng biện pháp hành chính, Ngân hàng trung ương còn có các nghiệp vụ mang tính chất kinh doanh, song Ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ sinh lời chỉ như phương tiện quản lý, không nhằm mục đích lợi nhuận.
(iii) Mục đích hoạt động của Ngân hàng trung ương là cung ứng, điều hòa lưu thông tền tệ, quản lý hệ thống ngân hàng nhằm phát triển kinh tế, kiểm soát lạm phát, ổn định lưu thông tiền tệ. (iv) Ngân hàng trung ương là định chế hổn hợp của hai tính chất: quản lý hành chính và doanh nghiệp. Các mô hình tổ chức NHTW NHTW có thể là một cơ quan trực thuộc Chính phủ như NHTW của Anh, hoặc chịu sự quản lý một phần từ Chính phủ như NHTW của Nhật, Canada, hoặc là một Ngân hàng tư nhân, nằm ngoài sự kiểm soát của Chính phủ như Cục dự trữ liên bang Mỹ. Mô hình NHTW trực thuộc chính phủ là mô hình trong đó, NHTW nằm trong nội các Chính phủ và chịu sự chi phối trực tiếp của chính phủ về nhân sự, về tài chính và đặc biệt về các quyết định liên quan đến việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ.
Các nước áp dụng mô hình này phần lớn là các nước Đông Á (Hàn quốc, Đài Loan, Singapore, Indonesia, Việt Nam .) hoặc các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa trước đây. Theo mô hình này, Chính phủ có thể dễ dàng phối hợp điều hành chính sách tiền tệ của NHTW đồng bộ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm đảm bảo mức độ và liều lượng tác động hiệu quả của tổng thể các chính sách đối với các mục tiêu vĩ mô trong từng thời kỳ. Mô hình này được xem là phù hợp với yêu cầu cần tập trung quyền lực để khai thác tiềm năng xây dựng kinh tế trong thời kỳ tiền phát triển. 10 Điểm hạn chế chủ yếu của mô hình này là NHTW sẽ mất đi sự chủ động trong việc thực hiện chính sách tiền tệ.
Sự phụ thuộc vào chính phủ có thể làm cho NHTW xa rời mục tiêu dài hạn là ổn định giá trị tiền tệ, góp phần tăng trưởng kinh tế. Mô hình NHTW độc lập với chính phủ là mô hình trong đó NHTW không chịu sự chỉ đạo của chính phủ mà chịu sự chỉ đạo của Quốc hội. Quan hệ giữa NHTW và chính phủ là quan hệ hợp tác. Các NHTW theo mô hình này là Cục dự trữ liên bang Mỹ, NHTW Thụy sĩ, Anh, Pháp, Đức, Nhật bản, NHTW châu Âu (ECB).
Xu hướng tổ chức NHTW theo mô hình này đang càng ngày càng tăng lên ở các nước phát triển. Theo mô hình này, NHTW có toàn quyền quyết định việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ mà không bị ảnh hưởng bởi các áp lực chi tiêu ngân sách hoặc các áp lực chính trị khác. Tuy nhiên, không phải tất cả các NHTW được tổ chức theo mô hình này đều đảm bảo được sự độc lập hoàn toàn khỏi áp lực của chính phủ khi điều hành chính sách tiền tệ. Mức độ độc lập của mỗi NHTW phụ thuộc vào sự chi phối của người đứng đầu nhà nước vào cơ chế lập pháp và nhân sự của NHTW.
Điểm bất lợi chủ yếu của mô hình này là khó có sự kết hợp hài hoà giữa chính sách tiền tệ - do NHTW thực hiện và chính sách tài khoá - do chính phủ chi phối để quản lý vĩ mô một cách hiệu quả. Như vậy có thể thấy rằng, không có một mô hình nào có thể được coi là thích hợp cho mọi quốc gia. Việc lựa chọn mối quan hệ thích hợp giữa NHTW và chính phủ phải tuỳ thuộc vào chế độ chính trị, yêu cầu phát triển kinh tế, đặc điểm lịch sử và sự phát triển của hệ thống ngân hàng của từng nước. Hoạt động cơ bản của NHTW a.
Phát hành tiền NHTW được giao trọng trách độc quyền phát hành tiền theo các quy định trong luật hoặc được chính phủ phê duyệt (về mệnh giá, loại tiền, mức phát hành.) nhằm đảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lưu thông tiền 11 tệ của quốc gia. Đồng tiền do NHTW phát hành là đồng tiền lưu thông hợp pháp duy nhất, nó mang tính chất cưỡng chế lưu hành, vì vậy mọi người không có quyền từ chối nó trong thanh toán. Nhiệm vụ phát hành tiền còn bao gồm trách nhiệm của NHTW trong việc xác định số lượng tiền cần phát hành, thời điểm phát hành cũng như phương thức phát hành để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế. Xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô trong đó NHTW sử dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ đồng thời thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm c.
Thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các NHTM NHTW không tham gia kinh doanh tiền tệ, tín dụng trực tiếp với các chủ thể trong nền kinh tế mà chỉ thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các ngân hàng thương mại. Bao gồm: - Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng thương mại dưới dạng tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán; - Cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại dưới hình thức chiết khấu lại (tái chiết khấu) các chứng từ có giá ngắn hạn do các ngân hàng trung gian nắm giữ. Việc cấp tín dụng của NHTW cho các ngân hàng thương mại không chỉ giới hạn ở nghiệp vụ tái chiết khấu các chứng từ có giá mà còn bao gồm cả các khoản cho vay ứng trước có đảm bảo bằng các chứng khoán đủ tiêu chuẩn, các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tại NHTW; - Là trung tâm thanh toán bù trừ cho hệ thống ngân hàng thương mại: Vì các ngân hàng thương mại đều mở tài khoản và ký gửi các khoản dự trữ bắt buộc và dự trữ vượt mức tại NHTW nên có thể thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua NHTW thay vì thanh toán trực tiếp với nhau. Khi đó, NHTW đóng vai trò là trung tâm thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng thương mại.
Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng. Với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng, NHTW không chỉ cung ứng các dịch vụ ngân hàng thuần tuý cho các ngân hàng trung gian, mà thông qua các hoạt động đó, NHTW còn thực hiện vai trò điều tiết, giám sát thường xuyên hoạt động của các ngân hàng trung gian nhằm đảm bảo sự ổn định trong hoạt động ngân hàng và bảo vệ lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là của những người gửi tiền, trong quan hệ với ngân hàng. Thực hiện các dịch vụ tài chính cho Chính phủ. Cho dù NHTW được xây dựng theo mô hình nào, độc lập hay phụ thuộc vào Chính phủ, thì ít nhiều NHTW cũng có những ảnh hưởng và sự tương tác nhất định đối với các hoạt động kinh tế tài chính của Chính phủ.
Đối với mô hình NHTW độc lập với Chính phủ, sự can thiệp của Chính phủ vào trong hoạt động của NHTW là rất hạn chế. Tuy nhiên do NHTW luôn sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để điều tiết khối lượng tiền cung ứng, mà trái phiếu Chính phủ thường được mua bán trên thị trường này nên hoạt động của NHTW có tác động nhất định tới chính sách tài khóa của Chính phủ. Từ đó, trong một số trường hợp, hoạt động của chính sách tài khóa do Chính phủ điều hành cũng có những tác động nhất định đến hoạt động của NHTW trong mô hình này hoặc ngược lại. Đối với mô hình NHTW phụ thuộc vào Chính phủ thì NHTW có thể được coi là một cơ quan đại diện của Chính phủ trong các dịch vụ tài chính Nhà nước.
Bên cạnh hoạt động của chính sách tiền tệ, NHTW cũng thực hiện thêm các hoạt động hỗ trợ Chính phủ trong việc phát hành trái phiếu Chính phủ, thực hiện vay nợ trong và ngoài nước hay thực hiện thanh toán cho Chính phủ,. HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỪ XA CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm hoạt động giám sát từ xa ngân hàng Để hiểu rõ khái niệm hoạt động giám sát từ xa, trước tiên cần phân biệt 13 sự khác nhau của các khái niệm: giám sát và thanh tra.