CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Lịch sử ra đời và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ a.
Giai đoạn sơ khai Kiểm soát nội bộ đã tồn tại từ thời cổ đại. Khi Hy Lạp có chính quyền kép với việc phân chia trách nhiệm thu thuế và giám sát việc thu thuế. Hình thức ban đầu của KSNB là kiểm soát tiền và bắt đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp. Thuật ngữ kiểm soát nội bộ bắt đầu xuất hiện từ giai đoạn này.
Giai đoạn hình thành Vào năm 1949, Hiệp hội kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA) công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB với nhan đề là: “Kiểm soát nội bộ, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và với kiểm toán viên độc lập”. Sau đó, AICPA đã soạn thảo và ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của KSNB. Trong suốt thời kỳ trên, khái niệm về KSNB đã không ngừng được mở rộng và ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán. Tuy nhiên, KSNB vẫn mới dừng lại như là một phương tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán BCTC trước khi báo cáo COSO (1992) ra đời.
Giai đoạn phát triển Năm 1985, Ủy Ban COSO đã được thành lập. Đây là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính (thường gọi tắt là Ủy ban Treadway). Đến năm 1992, Ủy ban COSO đã chính 12 thức ban hành Báo cáo 1992. Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống.
Trong báo cáo này nêu rõ KSNB không chỉ dừng lại ở vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra phương diện hoạt động của doanh nghiệp và tuân thủ các chính sách. Giai đoạn hiện đại (thời kỳ hậu COSO - từ 1992 đến nay) Báo cáo COSO 1992 chưa thực sự hoàn chỉnh nhưng đã tạo lập được một cơ sở lý thuyết rất cơ bản và được xem là nền tảng về KSNB. Sau đó, hàng loạt các nghiên cứu phát triển về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời như phát triển Quản trị rủi ro (ERM 2004) về công ty nhỏ, phát triển theo hướng CNTT (COBIT), theo hướng kiểm toán độc lập, chuyên sâu về những ngành nghề cụ thể và giám sát (2008). Đặc biệt trong giai đoạn này KSNB đã được phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể: Lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực đã có những nghiên cứu khá đầy đủ và chi tiết.
Các mục tiêu chính của KSNB được phân loại như sau: - Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; - Sự tin cậy, đầy đủ và kịp thời của thông tin tài chính và quản trị; - Sự tuân thủ pháp luật và các quy định liên quan. Định nghĩa về kiểm soát nội bộ Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315 “Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị” có đề cập đến khái niệm kiểm soát nội bộ như sau; KSNB là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác 13 trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan. Dưới góc độ của Nhà lãnh đạo, Nhà hoạch định chính sách qua quá trình nhận thức tìm hiểu và nghiên cứu KSNB đã dẫn đến hình thành nhiều định nghĩa khác nhau nhưng tương đồng với nhau về mặt ý nghĩa. Tuy nhiên, định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa COSO.
COSO được thành lập nhằm nghiên cứu về KSNB và đưa ra các bộ phận cấu thành để giúp các đơn vị có thể xây dựng một HTKSNB hữu hiệu. Hội đồng các tổ chức tài trợ ủy ban Treadway (COSO) xây dựng mô hình đánh giá hệ thống KSNB được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trên thế giới như những chuẩn mực của chất lượng KSNB. Theo mô hình này, KSNB được định nghĩa là: quy trình do hội đồng quản trị, ban điều hành và các cá nhân thực thi được xây dựng nhằm đưa ra sự đảm bảo ở mức độ hợp lý với mục đích là đạt được những nội dung; - Tính hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động; - Mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính; - Tính tuân thủ các quy định và luật pháp hiện hành. Kiểm soát nội bộ theo báo cáo COSO Vào năm 1992, COSO đã ban hành báo cáo đầu tiên về KSNB.
Hai mươi mốt năm sau, năm 2013, Ủy ban COSO đã cập nhật và cải tiến Báo cáo đã ban hành 1992, nhằm gia tăng sự dễ hiểu, rõ ràng và dễ áp dụng vào thực 14 tế. Điều này còn là do môi trường kinh doanh đã thay đổi đáng kể, như sự toàn cầu hóa nền kinh tế, sự thay đổi cách thức kinh doanh, các kỳ vọng về ngăn ngừa và phát hiện gian lận ngày càng cao và đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin trên quy mô toàn cầu. Việc toàn cầu hóa kinh tế thế giới, đã đưa đến yêu cầu cao về tính minh bạch thông tin. Mục tiêu của Báo cáo COSO 2013 là thiết lập các khuôn mẫu và đưa ra các hướng dẫn về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và biện pháp để giảm thiểu gian lận, từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của đơn vị.
1 Theo báo cáo COSO, hệ thống KSNB bao gồm năm bộ phận, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như hình trình bày dưới đây: Môi trường kiểm soát Đánh Giám giá rủi sát ro Hệ thống KSNB Thông Hoạt tin và động truyền kiểm thông soát Nguồn: Tác giả thu thập, nghiên cứu hình thành sơ đồ Sơ đồ 1. Các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ theo COSO 2013 Gắn với 5 bộ phận cấu thành là 17 nguyên tắc (Principles) liên quan đến cách thức tổ chức KSNB, chúng bao gồm: 1 ThS. Nguyễn Thị Ngọc Thọ, Vụ Kiểm toán nội bộ 15 1. Môi trường kiểm soát Nguyên tắc 1: Đơn vị thể hiện sự cam kết về tính trung thực và các giá trị đạo đức.
Nguyên tắc 2: Hội đồng quản trị thể hiện sự độc lập với người quản lý và đảm nhiệm chức năng giám sát việc thiết kế và vận hành HTKSNB. Nguyên tắc 3: Dưới sự giám sát của Hội đồng quản trị, nhà quản lý xây dựng cơ cấu, các cấp bậc báo cáo, cũng như phân định trách nhiệm và quyền hạn phù hợp cho việc thực hiện các mục tiêu. Nguyên tắc 4: Đơn vị thể hiện sự cam kết về việc thu hút nhân lực thông qua tuyển dụng, phát triển và giữ chân các cá nhân có năng lực phù hợp để đạt được mục tiêu. Nguyên tắc 5: Đơn vị chỉ rõ trách nhiệm giải trình của từng cá nhân liên quan đến trách nhiệm kiểm soát của họ để đạt được mục tiêu của đơn vị.
Đánh giá rủi ro Nguyên tắc 6: Đơn vị xác định mục tiêu một cách cụ thể, tạo điều kiện cho việc nhận dạng và đánh giá rủi ro liên quan đến mục tiêu. Nguyên tắc 7: Đơn vị nhận dạng các rủi ro đe dọa mục tiêu của đơn vị và phân tích rủi ro để quản trị các rủi ro này. Nguyên tắc 8: Đơn vị cân nhắc khả năng có gian lận khi đánh giá rủi ro đe dọa đạt được mục tiêu. Nguyên tắc 9: Đơn vị nhận dạng và đánh giá các thay đổi có thể ảnh hưởng đáng kể đến hệ thống kiểm soát nội bộ.
Hoạt động kiểm soát Nguyên tắc 10: Đơn vị lựa chọn và xây dựng các hoạt động kiểm soát để giảm thiểu rủi ro (đe dọa đến việc đạt được mục tiêu) xuống mức thấp có 16 thể chấp nhận được. Nguyên tắc 11: Đơn vị lựa chọn và xây dựng các hoạt động kiểm soát chung đối với công nghệ nhằm hỗ trợ cho việc đạt được các mục tiêu của đơn vị. Nguyên tắc 12: Đơn vị triển khai các hoạt động kiểm soát thông qua chính sách và thủ tục kiểm soát. Thông tin và truyền thông Nguyên tắc 13: Đơn vị thu thập, tạo lập và sử dụng các thông tin thích họp và có chất lượng nhằm hỗ trợ cho sự vận hành của kiểm sọát nội bộ.
Nguyên tắc 14: Đơn vị truyền thông trong nội bộ các thông tin cần thiết nhằm hỗ trợ cho sự vận hành của kiểm soát nội bộ Nguyên tắc 15: Đơn vị truyền thông với bên ngoài các vấn đề có tác động tới việc vận hành của kiểm soát nội bộ. Giám sát Nguyên tắc 16: Đơn vị lựa chọn, triển khai và thực hiện việc giám sát thường xuyên và định kỳ để đảm bảo rằng các bộ phận của kiểm soát nội bộ hiện hữu và hoạt động hữu hiệu. Nguyên tắc 17: Đơn vị đánh giá và truyền đạt các khiếm khuyết về KSNB kịp thời cho các cá nhân có trách nhiệm để họ thực hiện các hành động sửa chữa, bao gồm các nhà quản lý cao cấp và Hội đồng quản trị, khi cần thiết. KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG LĨNH VỰC TÍN DỤNG 1.
Quá trình phát triển của Basel Vào những năm 1980, khi hệ thống NHTM trên thế giới phát triển 2 Bộ môn Kiểm toán, Khoa Kế Toán, trường Đại học Kinh tế TP. HCM tổ chức biên soạn. Các tác giả bao gồm: PGS. Trần Thị Giang Tân (chủ biên), PGS.
Võ Anh Dũng, ThS. Mai Đức Nghĩa, ThS. Phạm Thị Ngọc Bích, TS. Dương Minh Châu, ThS.
Phí Thị Thu Hiền và ThS Nguyễn Đình Hoàng Uyên. 17 mạnh mẽ cũng là lúc việc cạnh tranh không lành mạnh và công bằng giữa các ngân hàng diễn ra ngày càng phổ biến. Để giải quyết vấn đề này, lãnh đạo các nước phát triển đã tìm giải pháp thích hợp vừa khuyến khích cạnh tranh công bằng giữa các ngân hàng vừa đảm bảo an toàn cho người gửi tiền. Giải pháp ấy chính là giới thiệu Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I.