mở đầu cho hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tức là người thanh toán không phải mang đi, mang lại một lượng lớn tiền mặt, hoặc phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách, khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt như an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập. Điều này đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ, do đó qui mô thanh toán trực tiếp ngày càng bị thu hẹp. Các công cụ thanh toán qua ngân hàng bao gồm: Séc: Séc là lệnh của chủ tài khoản yêu cầu ngân hàng trích một số tiền nhất định trên tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên séc hay người cầm tờ séc đó.
Séc là hình thức thanh toán lâu đời, phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, bao gồm nhiều loại: séc ký danh, séc vô danh, séc tiền mặt, séc chuyển khoản, séc bảo chi, séc du lịch,. Uỷ nhiệm thu: Ưỷ nhiệm thu là hình thức thanh toán mà người bán sau khi giao hàng sẽ xuất trình cho ngân hàng phục vụ mình những chứng từ được qui định trong hợp đồng để nhờ thu hộ. Có hai hình thức nhờ thu: nhờ thu trơn (nhờ thu không kèm chứng từ) và nhờ thu kèm chứng từ. Hình thức thanh toán này được sử dụng trong thanh toán nội địa và thanh toán quốc tế.
Uỷ nhiệm chi: Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn của ngân hàng, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản 12 để trả cho người thụ hưởng có tài khoản ở cùng một ngân hàng hay khác ngân hàng. Thẻ: Thẻ là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính phát hành, cung cấp cho khách hàng và được sử dụng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý, máy rút tiền tự động hoặc thanh toán hàng hóa tại các cơ sở chấp nhận thẻ trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi, hạn mức tín dụng được kí kết giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ. Theo tính chất của thẻ, người ta phân ra thành hai loại: thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng: Thẻ ghi nợ (Debit Card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi của chủ thẻ mở tại ngân hàng. Khi sử dụng loại thẻ này để thanh toán hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt thì giá trị của những giao dịch này sẽ được trừ ngay vào tài khoản tiền gửi của chủ thẻ.
Việc chi tiêu của loại thẻ này dựa trên cơ sở số dư có trong tài khoản tiền gửi thanh toán. Thẻ tín dụng (Credit card): là loại thẻ ngân hàng cung cấp cho khách hàng một hạn mức nhất định trên cơ sở số tiền kí quỹ, thế chấp, khả năng tài chính, uy tín của khách hàng đối với ngân hàng. Khách hàng chỉ được phép chi tiêu trên hạn mức được cấp. Thẻ tín dụng là loại thẻ có hạn mức tín dụng tuần hoàn.
Khi phát sinh giao dịch thanh toán, khách hàng sử sựng thẻ để thanh toán, đến kì hạn trả nợ miễn là khách hàng thanh toán đầy đủ số tiền đã chi tiêu thì sẽ được sử dụng lại hạn mức chi tiêu của thẻ đó cho các giao dịch thanh toán phát sinh tiếp theo. Thư tín dụng: Thư tín dụng là văn bản pháp lý trong đó ngân hàng nơi mở thư tín dụng cam kết trả tiền cho bên bán nếu bên bán thực hiện đúng và đầy đủ những qui định theo thư tín dụng. Thư tín dụng được mở trên cơ sở hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng hai bên đã kí kết. Muốn được mở thư tín dụng người mua phải lưu kí tiền của mình vào tải khoản đảm bảo thanh toán tại ngân hàng.
Căn cứ vào thư tín dụng được bên mua mở, bên bán giao hàng cho bên mua. Sau 13 đó bên bán lập bộ chứng từ thanh toán theo qui định trong thư tín dụng nộp vào ngân hàng. Bộ chứng từ này sẽ được chuyển cho ngân hàng bên mua để đòi tiền và ngân hàng sẽ thanh toán cho người được hưởng nếu thư tín dụng không có sai sót. Vì vậy, hình thức này có độ an toàn, chuẩn xác cao và được dùng phổ biến trong thanh toán quốc tế.
Hôi phiêu: Là mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người kí phát cho người khác, yêu câu người này khi nhìn thấy phiếu hoặc đến một ngày cụ thể nhất định tiến hành chi trả theo lệnh. Quản lý ngân quỹ: Ngân hàng cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty và tiên hành đâu tư phân thặng dư tiên mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán. Bảo lãnh ngân hàng là sự cam két bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết VỚI bên nhận bảo lãnh. Căn cứ vào mục đích bảo lãnh, ngân hàng có các loại bảo lãnh cơ bản sau: Bảo lãnh dự thầu; Bảo lãnh thực hiện hợp đồng, Bảo lãnh thanh toán, Bảo lãnh bảo hành, Bảo lãnh hoàn trả tạm ứng, Bảo lãnh vay vốn Bảo lanh phat hanh chưng khoán, Các loại bảo lãnh khác.Cơ sở cho việc cung cấp dịch vụ này là do khả năng thanh toán của ngân hàng cho khách hàng là rất lớn và ngân hàng năm giữ tài khoản tiên gửi của khách hàng nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng.
Dịch vụ uỷ thác: Dịch vụ uỷ thác là dịch vụ quản lý tài sản và quản lý tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp. Dịch vụ này phát triển khi thị trường tài chính phát triển và đời sống ở mức cao. Các loại dịch vụ uỷ thác gồm có: Uỷ thác vay hộ và cho vay hộ; Uỷ thác phát hành, Ưỷ thác đầu tư, Ưỷ thác trong quản lý tài sản và thực hiện di chúc, ủ y thác trong việc trả lương, Uỷ thác phát 14 hành cô phiêu, trái phiếu, thanh toán lãi hoặc lợi tức và thanh toán chứng khoán khi đến hạn và các uỷ thác khác. Dịch vụ tư vấn: Do hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng có nhiều kinh nghiệm cũng như chuyên gia về quản lý tài chính trong việc thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, công nghệ, thị trường.
Trên cơ sở đo, ngan hang cung câp dịch vụ tư vân vê các lĩnh vực trên cho các doanh nghiệp. Cung cap dị ch vụ môi giới đâu tư chứng khoán: Ngân hàng cung cấp các dịch vụ môi giới chứng khoán, tạo cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu trái phiêu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán. Dịch vụ bao hiem: Các ngân hàng bán bảo hiêm cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hoàn trả trong trường họp khách hàng bị chết, tàn phế hay gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh hay mất khả năng thanh toán. Dịch vụ đại lý: Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi.
Do đó, một số ngân hàng lớn cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hanh họ cac chứng chỉ tiên gửi hay làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ 1. Hoàn thiện dịch vụ NHTM Quan điểm về hoàn thiện dịch vụ NHTM Hoàn thiện về chiều rộng đồng nghĩa với việc đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, không chỉ duy trì các hoạt động truyền thống như trao đổi ngoại tệ bảo quản vật có giá mà phải tiếp cận và áp dụng các loại hình dịch vụ hiện đại như tư van, moi giơi đau tư chứng khoán, bảo hiêm, bảo lãnh. Đồng thời đẩy mạnh phat tnên các dịch vụ khoa học kĩ thuật cao như thanh toán qua thẻ, dịch vụ intemetbanking, home banking,.Như vậy hoàn thiện ở đây có nghĩa là luôn đưa ra dịch vụ mới, đáp ứng được những yêu cầu của khách hàng. 15 Hoàn thiện về chiều sâu đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng dịch vụ hoàn thiện các dịch vụ hiện có.
Khi giữa các ngân hàng không có sự phân biệt về đa dạng hoá loại hình dịch vụ thì chất lượng dịch vụ là yếu tố quyết định thành công của môi ngân hàng. Vì vậy ngay từ đầu các ngân hàng phải có kế hoạch va chien lược đê củng cô và ngày càng hoàn thiện các hoạt động cung ứng dịch vụ, cung ứng cho khách hàng các sản phẩm tiện ích nhanh chóng, thuận tiẹn, chi phí họp lý trên cơ sở đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng và tuân thủ các qui định của pháp luật. Tóm lại hoàn thiện dịch vụ ngân hàng là việc mở rộng số lượng và nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng làm thoả mãn tốt nhất nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, trên cơ sở đảm bảo các mục tiêu của ngân hàng. Sự cần thiết của hoàn thiện dịch vụ ngân hàng • Yêu cầu của nền kinh tế: Trước hết, dịch vụ ngân hàng ngày càng sử dụng nhiều thành tựu của công nghệ thông tin.
Để phát triển các dịch vụ thẻ ATM, dịch vụ Internet Banking Home Banking thì các ngân hàng phải trang bị các thiết bị hiện đại như: Máy rút tiên tự động (ATM), máy đọc thẻ (POS), mạng trực tuyến (qua website, điện thoại di động,. Thêm vào đó, dịch vụ ngân hàng là loại dịch vụ chất lượng cao, đòi hỏi người cung cấp và khách hàng phải có kiến thức am hiểu nhất định mới có thể sư dụng và vận hành. Phân lớn các loại dịch vụ này tạo ra giá trị tăng trưởng cao - một đặc điểm của nền kinh tế tri thức. Ngoài ra, dịch vụ ngân hàng tạo điều kiện cho các ngành dịch vụ khác phát triển.
Do đặc điểm dịch vụ ngân hàng liên quan sâu đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực san xuât và đời sông nên sự phát triên của dịch vụ ngân hàng thúc đẩy sự phát triển của các ngành dịch vụ khác. Chẳng hạn, lĩnh vực xuất nhập khẩu sẽ bị hạn chế nếu dịch vụ thanh toán qua ngân hàng không thông suốt. Đồng thời dịch 16 vụ thanh toan cũng đòi hỏi lĩnh vực công nghệ và thông tin cũng phải phát triển Cac nganh du hch, bưu chính viên thông, hàng không,. cũng sẽ phát triển theo.